Skip to content
Top banner

Hướng đến Thần học mạng

THTT-01
2023-01-11 09:55 UTC+7 289

Fr. Anthony Le Duc, SVD


Sống và phục vụ Giáo hội tại Bangkok, tôi có nhiều phương tiện giao thông để lựa chọn khi đi lại – ô tô, xe buýt, tàu điện, xe tuktuk, xe ôm... Một trong những phương tiện đi lại phổ biến nhất đối với người dân bản xứ là xe ôm truyền thống. Cách tổ chức xe ôm tại Thái Lan khá bài bản. Tài xế xe ôm phải có giấy phép hành nghề, và chỉ được đón khách ở “trạm xe ôm” mà họ được cấp phép, không được đón dọc đường hoặc ở các trạm khác. Các trạm xe ôm thường được đặt ở trước các trung tâm mua sắm, gần các trạm xe điện, ở đầu và cuối những con hẻm dài để thuận tiện cho người dân đi lại và chuyển từ phương tiện giao thông này qua phương tiện giao thông khác. Mỗi khi khách tới trạm để kêu xe thì tài xế nào đứng đầu hàng là người thực hiện cuốc xe. Ngược lại, nếu khách đến sau thì phải chờ cho khách đến trước lên xe rồi mới được phục vụ. Hệ thống này giúp cho các trạm xe ôm trật tự hơn, đặc biệt là vào các giờ cao điểm buổi sáng khi người dân đi làm, đi học, và buổi chiều khi tan ca.


Để tạo nên được một “văn hóa xe ôm” tốt cần có “văn hóa xếp hàng”, và người Thái Lan cũng làm được điều này rất tốt. Mỗi chiều tối, khi lượng khách áp đảo lượng xe ôm thì khách buộc phải xếp hàng dọc lối đi để chờ được phục vụ. Có khi người ta phải đứng chờ 10-15 phút mới được lên xe. Cũng may, phải đứng chờ ngày nay không còn là một việc quá nặng nề đối với người dân, vì mọi người đã có điện thoại thông minh để truy cập internet trong lúc chờ tới phiên mình. Hình ảnh những hàng người chờ xe ôm dài hàng chục mét, mọi người đều nhìn chăm chăm vào điện thoại của mình đã trở thành một hình ảnh quen thuộc trong lối sống của người dân thành phố thủ đô Bangkok. Hình ảnh này cũng được lập đi lập lại ở những nơi khác như xếp hàng chờ lên xe điện, xe buýt, chờ thanh toán tiền tại các siêu thị, chờ lên máy bay…. Ngoại trừ xe ôm, thì khi đã lên xe buýt, xe điện, máy bay, người ta vẫn tiếp tục dán mắt vào điện thoại của mình để chơi game, lướt mạng xã hội, và nhắn tin cho nhau… Cuộc sống của con người ở thế kỷ XXI, bất kể ở châu Mỹ, châu Âu hay châu Á, là một sự nối liền giữa hai thế giới – vật lý và kỹ thuật số.


Ngày 23/11/2021, trong một sứ điệp bằng video gửi đến Hội đồng Giáo hoàng về Văn hóa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói rằng: “Ngày nay, một cuộc cách mạng đang diễn ra – đúng vậy, một cuộc cách mạng – nó đụng chạm đến mọi điểm nút thiết yếu trong đời sống con người và đòi hỏi một nỗ lực sáng tạo về tư tưởng và hành động. Cả hai chiều kích. Có một sự thay đổi về cơ cấu trong cách chúng ta thấu hiểu về sự sinh ra, sự ra đời, và sự chết.”[1] Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha cho rằng trong thế kỷ XXI, chúng ta đang đối diện với các câu hỏi vế căn tính của con người: Ý nghĩa của những khái niệm như cương vị làm cha, cương vị làm mẹ là gì? Những tính chất gì phân biệt con người với máy móc với các loài vật khác? Ơn gọi siêu nhiên của con người là gì? Từ đâu mà chúng ta được kêu gọi xây dựng những mối tương quan xã hội với người khác? Những vấn đề mà Đức Thánh Cha đặt ra rất thiết thực và cấp thiết cho bối cảnh thế giới ngày càng bị chi phối bởi khoa học công nghệ.


Khi công nghệ kỹ thuật số xâm nhập vào mọi khía cạnh của xã hội loài người, vào cả đời sống tôn giáo và tâm linh, đã có một số thuật ngữ nghe có vẻ không quen thuộc được đề cập đến trong các cuộc thảo luận thần học mà ý nghĩa của chúng không được rõ ràng ngay với người nghe. Những thuật ngữ như “thần học kỹ thuật số” (digital theology), “thần học trong thời đại kỹ thuật số” (theology in the digital age), “thần học mạng” (cybertheology), “thần học về internet” (theology of the internet) và một số thuật ngữ khác. Trong khi chưa có thuật ngữ nào được công nhận chính thức là truyền đạt đầy đủ ý nghĩa, chúng lại chỉ ra một thực tại quan trọng đang thu hút sự quan tâm đáng kể là mối tương quan giữa thần học và công nghệ thông tin kỹ thuật số (CNTT-TT). Ở đây tôi không chủ trương đưa ra hoặc cổ võ một thuật ngữ cụ thể nào, bởi lẽ sự đồng thuận sẽ đến vào đúng thời của nó. Mục tiêu đầu tiên của bài viết này là suy tư về một số vấn đề thần học phát sinh trong bối cảnh kỹ thuật số, trong đó những từ ngữ như “thời đại kỹ thuật số” và “không gian mạng” trước đây nghe có vẻ xa lạ và viễn vông thì ngày nay lại phản ánh một thực tại cụ thể đang lan tỏa trong đời sống con người. Thần học Kitô giáo vốn đụng chạm đến những vấn đề và khát vọng tâm linh sâu xa nhất của nhân loại không thể làm ngơ trước những ảnh hưởng của công nghệ kỹ thuật số đến những chiều kích quan trọng của đời sống con người, đặc biệt là mối tương quan của con người với Thiên Chúa và với anh em đồng loại.


Ngay từ đầu, cần phải nói rõ rằng những suy tư dưới đây chỉ là một nỗ lực khiêm tốn để đóng góp vào các nghiên cứu có hệ thống và chuyên môn hơn trong lãnh vực vẫn còn khá mới này. Mặc dù trong những năm gần đây, sau khi cuốn sách Cybertheology: Thinking Christianity in the Era of the Internet [2] (Thần học mạng: Kitô giáo trong thời đại Internet) của Antonio Spadaro xuất bản năm 2014, người ta đã quan tâm nhiều hơn đến việc xem xét sự giao thoa giữa thần học và kỷ nguyên kỹ thuật số. Đây là một bước tiến theo thời gian kể từ khi Spadaro bắt đầu xem xét chủ đề này. Trong cuốn sách của mình, chính Spadaro đã than thở về việc thiếu nguồn tài liệu và phải nhìn chằm chằm vào “màn hình máy tính trống rỗng mà không biết bắt đầu từ đâu hoặc viết gì”[3] khi được yêu cầu trình bày nội dung thần học về tôn giáo và internet. Vị linh mục và tác giả Dòng Tên này đã tìm thấy rất nhiều thông tin liên quan đến chiều kích mục vụ của internet – những lợi ích và rủi ro của nó, việc sử dụng nó như một công cụ truyền giáo, v.v. – nhưng những suy tư thần học có hệ thống lại rất ít.[4]


Mặc dù thừa nhận đã có nhiều cuộc thảo luận hơn về thần học kỹ thuật số trong các cuộc đối thoại tri thức và trên các tạp chí học thuật trong những năm gần đây, nhưng Heidi Campbell nhận thấy rằng cho đến nay vẫn chưa có cuốn sách nào chỉ tập trung vào chủ đề thần học kỹ thuật số.[5] Cũng cần thiết phải nêu những lý do tại sao cần có một thần học mạng, đồng thời xem xét thuật ngữ này căn bản nói đến điều gì. Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có định nghĩa chính thức về thần học mạng hay thần học kỹ thuật số. Vì thế, tác giả hy vọng rằng những suy tư được trình bày ở đây có thể đóng góp vào quá trình phát triển một khái niệm rõ ràng hơn trong tương lai.

 

Cần có một nền thần học mạng

 

Việc có những bước tiến trong nền thần học là một tiến trình tự nhiên trong đời sống của Giáo hội. Đôi khi đó là kết quả do những biến cố bên ngoài thể chế của Giáo hội thúc đẩy. Những biến đổi có thể do khám phá khoa học đem đến, như trong trường hợp khám phá về vũ trụ của Copernic và thuyết tiến hóa của Darwin. Hai sự kiện to lớn này giúp cho Giáo hội hiểu được rằng, chúng ta không thể đọc Kinh Thánh như một nguồn dữ liệu khoa học. Những tiến bộ trong lĩnh vực công nghệ cũng ảnh hưởng đáng kể đến thần học. Trong thời Cựu Ước, các bản văn Kinh Thánh được viết và truyền lại trên những cuộn da. Tuy nhiên, mỗi cuộn chỉ chứa đựng được một số nội dung, vì thế cần phải có rất nhiều cuộn giấy da để ghi lại các phần khác nhau của Kinh Thánh. Cho đến thế kỷ IV, sau khi phát minh ra cuốn codex (sách chép tay), toàn bộ quy điển Kinh Thánh có thể đưa vào chung trong một bộ sách duy nhất với sự sắp xếp và liên hệ cụ thể với nhau. Không giống trước đó, khi mà ý tưởng quy điển Kinh Thánh như một thực thể duy nhất chỉ là một khái niệm, thì việc phát minh sách chép tay giúp cho độc giả nhận biết quy điển là một thể thống nhất. Nếu như việc phát hành cuốn Kinh Kim Cang tại Trung Hoa vào thế kỷ IX được xem là bản in đầu tiên giúp cho Phật giáo mở rộng khắp châu Á, thì sự phát triển công nghệ gây chấn động là việc phát minh ra máy in của Gutenberg đã làm nảy sinh nền văn hóa văn bản và việc phổ biến thông tin chưa từng có trong suốt 500 năm qua.[6]

 

Công nghệ máy tính phát triển vào cuối thế kỷ XX và đầu thiên niên kỷ mới này đưa truyền thông đến một tầm cao chưa bao giờ thấy trong lịch sử của nhân loại. Việc số hóa thông tin và truyền tải thông tin dưới hình thức này là một sự phát triển độc đáo, ảnh hưởng đến cách thức thông tin được xuất bản, phổ biến và tiêu thụ. Trong bối cảnh mới hiện nay, sách báo có thể xuất bản hoàn toàn trực tuyến. “Báo chí” không cần có mặt ở các sạp báo hoặc thậm chí không cần phải in ra.[7] Các tài liệu nghiên cứu học thuật có sẵn khá nhiều trên internet, và về mặt lý thuyết, các luận án tiến sĩ cũng có thể được hoàn thành bằng cách nghiên cứu trực tuyến, sau đó viết bài trên máy tính, lưu trữ dưới dạng kỹ thuật số và gởi đến hội đồng đánh giá qua thư điện tử.[8]


Internet là một phương tiện truyền thông mới và độc đáo, nhưng đối với xã hội loài người và thần học Công giáo, nó còn mang nhiều tác động hơn. Trong tài liệu “Giáo hội và Internet” của Ủy ban Giáo hoàng về Truyền thông xã hội ban hành năm 2002, Giáo hội Công giáo nhìn nhận sức mạnh của internet trong việc đem lại “những thay đổi mang tính cách mạng trong lãnh vực thương mại, giáo dục, chính trị, báo chí, tương quan giữa các quốc gia, tương quan giữa các nền văn hóa – không chỉ thay đổi trong cách mọi người giao tiếp nhưng cả trong cách họ hiểu về cuộc sống nữa.”[9] Thật vậy, với sự ra đời của các mạng xã hội, giao tiếp trên mạng không đơn thuần chỉ là chia sẻ thông tin, mà còn là việc trau dồi các mối tương quan với những người quen biết thực sự và cả những người chỉ quen trên mạng mà thôi. Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI nhận định về các mạng xã hội như sau:


Mọi người tham gia xây dựng các mối tương quan, kết bạn, tìm kiếm câu trả lời cho những thắc mắc của mình và giải trí, nhưng họ cũng tìm kiếm sự kích thích trí tuệ, chia sẻ kiến thức và các bí quyết. Các mạng xã hội ngày càng trở nên một thành phần của xã hội, đến nỗi chúng đem mọi người đến với nhau dựa trên những nhu cầu căn bản. Do đó, mạng xã hội được nuôi dưỡng bằng những khát vọng bắt nguồn từ trái tim con người.[10]


Thực tế là internet với nhiều hình thức và ứng dụng đa dạng (thư điện tử, trò chuyện, phát trực tiếp giọng nói và video, World Wide Web, trò chơi điện tử, mạng xã hội…) đã thâm nhập vào mọi khía cạnh của xã hội hiện đại của loài người. Điều ấy có nghĩa là cần phải suy tư về hình thức truyền thông này không chỉ về mặt xã hội học mà còn về mặt thiêng liêng và thần học nữa. Cũng cần phải phân biệt giữa internet và không gian mạng (cyberspace). Internet là một hệ thống mạng kết nối hàng tỷ máy tính trên thế giới lại với nhau, là nơi thông tin được trao đổi qua những ứng dụng đa dạng của World Wide Web, thư điện tử, điện thoại và mạng ngang hàng (peer-to-peer networks) để chia sẻ dữ liệu.[11] Trong khi định nghĩa về internet khá dễ, thì nói chính xác về không gian mạng (cyberspace) lại phức tạp hơn. Nhiều người không hiểu sự khác biệt giữa “internet” và “cyberspace” nên dùng hai thuật ngữ này lẫn lộn với nhau.


Oxford Languages và Google định nghĩa không gian mạng là một “môi trường ý niệm (notional environment) trong đó diễn ra việc truyền thông qua mạng máy tính.”[12] Từ ý niệm được dùng vì không gian mạng thực tế không tồn tại theo vật lý. Nó là một không gian ẩn dụ (metaphorical space) chỉ tồn tại trong tâm trí của chúng ta, đặc biệt khi chúng ta nói chuyện với bạn bè và cảm nhận như thể chúng ta gặp họ tại một không gian cụ thể. Theo Neil Postmas, “Không gian mạng là một ý tưởng ẩn dụ (metaphorical idea) nơi đó ý thức của bạn được định vị khi bạn sử dụng kỹ thuật máy tính trên internet.”[13] Trong ngôn ngữ hằng ngày, không gian mạng được xem như là một thuật ngữ chung để nói về vô số thứ diễn ra trong môi trường trực tuyến – nơi người ta có thể tìm kiếm thông tin, giải trí hoặc tương tác với những người dùng internet khác.


Một khái niệm nảy sinh gắn liền nhưng không giống hệt với không gian mạng là thực tế ảo (virtual reality), một thuật ngữ đôi khi xuất hiện trong giao tiếp hằng ngày nhưng không luôn được hiểu đúng.[14] Trong lãnh vực công nghệ máy tính, thực tế ảo đề cập đến việc mô phỏng hoặc sao chép thực tế vật lý bằng cách sử dụng đồ họa tương tác 3D thời gian thực (real-time) và các thiết bị kỹ thuật nhằm tạo nên môi trường giúp người dùng nhập vai và tương tác trong chính môi trường đó.[15] Có thể thấy rằng thực tế ảo là một công nghệ rất đặc thù liên quan đến nhiều công cụ khác nhau để đạt được trải nghiệm nhất định cho người dùng. Bất cứ cái gì được xem là thực tế ảo đều phải đáng tin cậy, có tính tương tác, thao tác trên máy tính, có thể khám phá và nhập vai.[16] Tuy nhiên, thực tế ảo lại thường bị hiểu lầm và được dùng để nói đến những môi trường trực tuyến hay thế giới các mạng xã hội.


Thật ra, công nghệ thực tế ảo không nhất thiết phải liên quan đến internet, truyền thông kỹ thuật số hay không gian mạng, cái mà theo một nghĩa nào đó, không phải là ảo mà lại rất thật. Như Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI khẳng định: “Môi trường kỹ thuật số không phải là một thế giới song song hay thuần túy ảo, nhưng nó là một phần trải nghiệm hằng ngày của rất nhiều người, đặc biệt người trẻ.”[17] Quả thực, ngày nay người ta không còn nói về việc lên mạng như thể là thực hiện một cuộc dạo chơi trong thế giới thần tiên kỹ thuật số, rồi sau đó trở về với đời thực với những vấn đề và trách nhiệm của nó. Trong thế giới kỹ thuật số toàn cầu hiện nay, internet là nơi chúng ta giữ liên lạc với gia đình và bạn hữu, gặp gỡ người mới và kiến tạo những mối tương quan, làm ăn kinh doanh và cập nhật tin tức địa phương lẫn quốc tế, tìm kiếm đủ loại thông tin từ cách để thắt cà vạt đến phương thức nấu món canh tom yum kung nổi tiếng của Thái Lan, rồi đến chia sẻ hình ảnh, ý tưởng, cảm xúc với người khác trên mạng xã hội, blog hay các diễn đàn.


Chính vì thế mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II so sánh không gian mạng với công trường La mã cổ đại “nơi chính trị và kinh doanh giao du, nơi thực thi các bổn phận tôn giáo, nơi diễn ra phần lớn đời sống xã hội, là nơi bản chất cao quý nhất cũng như tệ hại nhất của con người thể hiện ra.”[18] Ở Thái Lan, một hình ảnh có thể dùng để so sánh như thế là các quảng trường trong thành phố lớn hay các khu chợ tỉnh, nơi đó người ta tụ tập để làm việc, giao lưu và buôn chuyện, ngay cả để làm công quả cho các nhà sư khất thực.[19] Một cách nào đó, không gian mạng là biểu tượng của những khu chợ vô cùng sầm uất ở các thị trấn với tất cả khung cảnh nhộn nhịp, âm thanh, và màu sắc xen lẫn vào nhau.


Vì thế không gian mạng không còn là một nơi tách biệt đâu đó nhưng nối kết mật thiết với đời sống chúng ta, đến nỗi chúng ta gắn bó với môi trường kỹ thuật số nhiều như không gian vật lý vậy. Nhiều người không còn coi internet là điều mới lạ nữa, nhưng là một phần của đời sống hằng ngày.[20] Cầm trên tay điện thoại thông minh hay máy tính bảng với kết nối 4G/5G, chúng ta có thể check-in và cho người khác biết mình đang ở đâu vào bất cứ lúc nào, dù là ở sân bay, rạp chiếu phim hay xếp hàng tính tiền ở siêu thị. Chỉ cần thoáng nhìn hàng dài các nhân viên văn phòng ở Bangkok đang kiên nhẫn xếp hàng đợi xe ôm mỗi tối hay các hành khách ở Hàn Quốc tiêu khiển thời gian trên tàu điện thì cũng có thể thấy internet thịnh hành ra sao trong đời sống con người. Với làn sóng dịch vi-rút corona từ đầu năm 2020, internet trở thành lớp học thay thế cho học sinh trên toàn thế giới không thể đến trường vì lệnh đóng cửa để chống dịch. Vì vậy, theo Antonio Spadaro,


Internet… không chỉ là một phương tiện truyền thông để người ta chọn sử dụng, nhưng nó còn mở ra một “môi trường” văn hóa quyết định một lối tư duy, tạo nên những vùng đất mới, những hình thức giáo dục mới, góp phần hình thành khái niệm về cách kích thích trí thông minh và thắt chặt các mối tương quan. Đó là lối sống và tổ chức thế giới của chúng ta. Nó không phải là một thế giới tách rời, nhưng ngày càng hội nhập sâu hơn trong đời sống hằng ngày của chúng ta.[21]


Tuy nhiên, khẳng định của Spadaro không phải mới mẻ và bất ngờ. Thậm chí vào năm 1990, khi internet còn chưa được dùng rộng rãi trong giới không chuyên thì Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thấy trước tiềm năng làm thay đổi mô hình văn hóa của các công nghệ truyền thông mới trong thời hiện đại. Trong Thông điệp Redemptoris Missio (Sứ Vụ Đấng Cứu Chuộc), ngài ví môi trường truyền thông mới như một “nền văn hóa mới” với “những cách thức giao tiếp mới, ngôn ngữ mới, kỹ thuật mới và tâm lý mới.”[22] Vì thế, cũng không lạ khi Domenico Pompili lập luận rằng internet là một nơi có sự hiện diện thực sự của con người và có phẩm chất như một không gian nhân học.[23] Nhận thức này buộc chúng ta phải tin vào sự tồn tại và vai trò của nó trong việc hình thành suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta, và cuối cùng tác động đến sự nhạy bén tâm linh và thần học của chúng ta nữa.


Vậy cần phải hỏi xem thần học kỹ thuật số hay thần học mạng là gì? Tại Đại học Durham ở Anh quốc, ban quản trị trung tâm Thần học Kỹ thuật số trả lời như sau:

Thần học kỹ thuật số suy tư về quá trình số hóa của xã hội và sự liên quan của nó đến đức tin và việc thực hành Kitô giáo. Những đổi mới công nghệ tạo ra một loạt thay đổi xã hội trong nhiều lãnh vực đời sống của thế kỷ XXI. Kitô giáo và nhiều tôn giáo khác cũng đang thay đổi khi tham gia vào truyền thông xã hội, giao tiếp qua các trang web và gia tăng việc sử dụng công nghê kỹ thuật số trong việc phụng tự, trong hoạt động mục vụ và Phúc âm hóa. Tiền đề cơ bản của Thần học Kỹ thuật số là nền văn hóa mới nảy sinh tạo nên điều kiện mới cho Giáo hội tìm được chính mình trong đó. Cần có những cuộc đối thoại thần học mới mẻ và những cách tiếp cận phù hợp.[24]


Debbie Herring quản trị một trang web về thần học mạng, trong đó nội dung được chia thành ba mục – thần học trong, thần học của, và thần học cho mạng xã hội.[25] Peter Singh khẳng định: “Thần học mạng phải được hiểu như là trí tuệ của đức tin trong kỷ nguyên số ảnh hưởng đến cách chúng ta suy nghĩ, học tập, giao tiếp và sống.”[26] Spadaro cũng tham chiếu khái niệm truyền thống về thần học để lập luận về những ý nghĩa thần học của internet. Vị linh mục viết:


Suy tư thần học mạng luôn là một tri thức phản xạ bắt đầu từ kinh nghiệm của đức tin… Do đó, Thần học mạng không phải là sự phản ánh xã hội học về tôn giáo trên internet, mà là kết quả của đức tin làm phát sinh một động lực nhận thức vào thời điểm mà logic của Web tác động đến cách suy nghĩ, cách hiểu biết, cách giao tiếp và cách sống.[27]


Thần học mạng cũng được phân biệt với các thần học khác tập trung vào hoặc uu tiên cho những lãnh vực/nhóm người đặc thù trong xã hội, ví dụ như thần học giải phóng (người nghèo và giới lao động), thần học nữ quyền (người nữ) và thần học châu Á (người dân châu Á). Hơn nữa, thần học mạng cũng không phải là một loại thần học nào đó chỉ nằm trong không gian mạng, xa rời với đời sống cụ thể hằng ngày. Quả thật, môi trường kỹ thuật số ngày càng bao trùm lên cuộc sống của chúng ta và có nhiều ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống. Do đó, thần học mạng là một sự suy tư có hệ thống về tác động biến đổi của thời đại kỹ thuật số trên các khía cạnh của đời sống đức tin và sự đáp trả của con người trước sự thay đổi không ngừng này.[28]


Thần học dưới bất kỳ hình thái nào đều quy chiếu về Thiên Chúa và mối tương quan của Người với con người như chủ đề chính. Tuy nhiên, thần học mạng lấy thông tin, nguồn cảm hứng cũng như các khám phá từ môi trường kỹ thuật số. Phần sau của chương này sẽ trình bày những suy tư về mối quan hệ đối với các khía cạnh khác nhau của cuộc sống con người, đặc biệt là mối tương quan của con người với Thiên Chúa và đồng loại. Mục đích là để xem các mối tương quan này có thể được nhận thức và duy trì như thế nào trong bối cảnh kỹ thuật số hiện đại.

 

Phân loại Thần học mạng

 

Vấn đề tiếp theo cần xem xét một cách ngắn gọn là Thần học mạng thuộc loại thần học nào? Như đã đề cập, có khá ít công trình trực tiếp đề cập hoặc thảo luận một cách rõ ràng về thần học mạng. Nhiều tài liệu về internet và tôn giáo thường bàn đến ảnh hưởng của internet đến niềm tin tôn giáo hoặc những hoạt động mục vụ mà công nghệ này đem đến cho Giáo hội. Suy tư thần học về thời đại kỹ thuật số dường như vẫn còn là một hoạt động mới lạ, có lẽ do thực tế là hầu hết những nhà thần học được đào tạo đầy đủ và nhiều kinh nghiệm không thể nắm bắt hết được những ngụ ý mà môi trường kỹ thuật số đem lại cho chúng ta trong hiện tại cũng như tương lai. Một số thần học gia lão thành, trước những phát triển về công nghệ kỹ thuật số, cũng chỉ biết dùng một số ít công cụ để hỗ trợ cho đời sống và công việc giảng dạy. Nhiều người chưa nắm được những thuật ngữ mới trong công nghệ thông tin để có thể thấu hiểu những gì người ta muốn nói khi sử dụng nó trong việc truyền đạt ý tưởng. Có thể hiểu rằng nhiều người trong chúng ta còn đang cố gắng làm quen và thích ứng trong môi trường mới này như là “những người nhập cư kỹ thuật số” (digital immigrants), trong khi những người được gọi là “bản xứ kỹ thuật số” (digital natives)[29] lại có vẻ như chưa đủ tuổi hoặc chưa được trang bị những công cụ cần thiết để suy tư một cách sâu xa về môi trường xã hội, văn hóa và thiêng liêng do công nghệ mới mang đến. 


Vì thế dựa trên những gì đã bàn luận, chúng ta có thể khẳng định rằng thần học mạng là một nền thần học đề cập đến một thực tại quan trọng – mối tương quan giữa thần học và kỷ nguyên truyền thông kỹ thuật số và công nghệ internet. Đây là một nền thần học có bối cảnh là môi trường kỹ thuật số vốn phản ánh bản chất của nền văn hóa hiện đại toàn cầu. Dù là một thần học theo bối cảnh, thần học mạng vẫn khác biệt với những thần học tập trung vào hoặc ưu tiên đề cập đến những lãnh vực hoặc nhóm đặc trưng trong xã hội như đã nêu trên. Bối cảnh của thần học mạng không liên quan đến một thực tại dân tộc hay nền văn hóa, nhưng là một sự thay đổi xã hội rộng lớn do công nghệ kỹ thuật số hiện đại mang lại.


Dựa vào bản chất của thần học nói chung, chúng ta có thể xem Thần học mạng như là một loại thần học theo bối cảnh (contextual theology). Ngày nay, người ta không còn tranh cãi khi phát biểu rằng thần học không được hình thành trong chân không nhưng nhất thiết phải đặt trong bối cảnh cụ thể về thời gian và địa điểm. Stephen Bevans, thần học gia thuộc Dòng Truyền Giáo Ngôi Lời, là một trong những người ủng hộ quan điểm này mạnh mẽ nhất. Trong cuốn sách Models of Contextual Theology (Những mô hình của Thần học theo bối cảnh) và các bài báo liên quan được tham khảo rộng rãi, Bevans chỉ ra bản chất bối cảnh của thần học ngay từ những ngày đầu tiên của Do Thái giáo. Bevans nhấn mạnh rằng các cuốn sách trong Kinh Thánh đã được viết và biên tập bởi những người mang những kinh nghiệm rất đặc trưng của vùng miền Palestine. Thế giới quan của họ ảnh hưởng sâu xa đến quan niệm về Chúa và mối tương quan với Người.


Chiều kích bối cảnh của thần học tiếp tục trong truyền thống Tân Ước với nền thần học được trình bày bởi các tác giả của bốn sách Phúc Âm và các thánh thư.[30] Nếu các nền thần học trình bày trong các sách khác nhau của Cựu Ước và Tân Ước đều mang chiều kích bối cảnh, thì không có gì sai nếu nói rằng: nền thần học mà chúng ta nhận là quy chuẩn, theo truyền thống do các Giáo phụ và những người kế tiếp trình bày cũng phải chứa đựng chiều kích bối cảnh. Trong trường hợp thần học chính thống của Giáo hội, gốc rễ sâu xa chính là triết học Hy Lạp và văn hóa châu Âu.


Trong thời hiện đại, nhiều thần học nảy sinh như một sự đáp ứng cho những điểm chưa thỏa đáng của nền thần học Công giáo truyền thống. Các thần học này chủ trương xem xét hoàn cảnh của con người trong các bối cảnh khác nhau bao gồm cả những người nghèo ở châu Mỹ Latin, người nữ, người gốc Phi ở vùng hạ Sahara, người Á châu và nhiều nhóm khác nữa. Các thần học cố gắng đáp ứng trước những bối cảnh đặc thù đôi khi được gọi là Thần học địa phương (local theology) hoặc Thần học của việc hội nhập văn hóa (theology of inculturation). Chúng hàm chứa ít nhiều biên giới về văn hóa hoặc địa lý, tuy nhiên thuật ngữ Thần học theo bối cảnh có một viễn cảnh rộng lớn hơn bao hàm các thực tại xã hội vượt ra ngoài văn hóa, chủng tộc hoặc địa lý. Bevans khẳng định rằng bản chất bối cảnh của những thần học này tạo thành một “mệnh lệnh thần học” (theological imperative) vì không có một nền thần học nào có thể được xây dựng mà không lấy bối cảnh làm chất liệu cho việc suy tư.[31] Mệnh lệnh thần học này tồn tại vì các tôn giáo tự nhiên mang tính bối cảnh. Nhà xã hội học tôn giáo Otto Madura nhận định:

Không có tôn giáo hoạt động trong chân không. Tất cả các tôn giáo – bất kể là tôn giáo nào mà chúng ta nhìn nhận – đều là một thực tại định vị trong một bối cảnh nhân sinh đặc thù: không gian địa lý, khoảnh khắc lịch sử, môi trường xã hội cụ thể và xác định. Tất cả các tôn giáo – bất kể là tôn giáo nào mà chúng ta nhìn nhận – trong mỗi trường hợp cụ thể, đều luôn luôn là tôn giáo của những con người nào đó.[32]


Vì vậy, thần học tìm được giá trị và sự xác đáng khi được trình bày trong bối cảnh thực tế của thời gian, nơi chốn và môi trường xã hội. Thần học gia Bernard Lonergan khẳng định, thần học “làm trung gian giữa khuôn mẫu văn hóa với ý nghĩa và vai trò của tôn giáo trong chính khuôn mẫu ấy” (Method in Theology, xi).[33]


Việc xác định tính bối cảnh của thần học không có nghĩa là đi tìm một hình thức mới của thần học. Nhưng hơn thế, khi thêm cụm từ “theo bối cảnh” sau từ “thần học” như một bổ ngữ, mục đích là làm rõ và minh chứng một tiến trình đã có ngay từ ban đầu. Một thần học đặc thù không nhất thiết phải mang tính quy chuẩn và áp dụng phổ quát cho mọi người trong mọi hoàn cảnh. Thần học “chính thống” thực sự là thần học theo bối cảnh. Tuy nhiên, bối cảnh trong nền thần học này có thể bị che giấu một cách cố ý hoặc vô ý nhằm làm nổi bật tính ứng dụng và hợp lý phổ quát cho toàn Giáo hội trên thế giới.


Thần học cổ điển được xem là khoa học khách quan của đức tin, sử dụng hai nguồn là Thánh Kinh và Thánh Truyền. Cả hai nguồn này được nhìn nhận vượt trên lịch sử và văn hóa. Tuy nhiên, qua việc khẳng định thần học mang tính bối cảnh, các thần học gia muốn nói rằng kinh nghiệm hiện tại của loài người được phản ánh qua nền văn hóa, các biến cố đời sống và những thay đổi xã hội đáng kể,… tạo thành một nguồn quan trọng cho suy tư thần học. Do đó, cả quá khứ chứa đựng trong Thánh Kinh và Thánh Truyền lẫn hiện tại trong bối cảnh hôm nay đều là chất liệu cho việc suy tư thần học.[34] Trong Tông huấn Evangelii Gaudiium, Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định tầm quan trọng của bối cảnh như sau:


Chúng ta sẽ không công bằng với logic nhập thể nếu chúng ta nghĩ về Kitô giáo là đơn văn hoá và đơn điệu. Tuy đúng là một số nền văn hoá đã được liên kết mật thiết với việc rao giảng Tin Mừng và sự phát triển tư tưởng Kitô giáo, nhưng sứ điệp mặc khải không bị đồng hoá với bất cứ nền văn hoá nào; nội dung của sứ điệp mang tính xuyên văn hoá. Thế nên trong việc loan báo Tin Mừng cho các nền văn hoá mới, hay các nền văn hoá chưa tiếp nhận sứ điệp Kitô giáo, không nhất thiết phải áp đặt cùng với Tin Mừng một hình thức văn hoá nhất định, dù nó đẹp hay lâu đời ra sao.[35]


Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp tục cho rằng thật là vô lý khi muốn mọi người ở mọi nơi “bắt chước cách diễn tả của các nước châu Âu đã phát triển vào một thời điểm nhất định trong lịch sử của họ.”[36] Theo Đức Thánh Cha, không một nền văn hóa riêng biệt nào có thể bày tỏ trọn vẹn mầu nhiệm của Thiên Chúa. Do đó, khi bối cảnh đặc trưng của một thời gian và địa điểm nào đó được đưa vào thần học, người ta có thể xem chúng là thần học được căn tính văn hóa truyền cảm hứng, như trường hợp thần học châu Á, thần học châu Phi; thần học dùng kinh nghiệm về giới tính như chất liệu suy tư như thần học nữ quyền; thần học xem xét về vị trí xã hội như thần học giải phóng hay thần học đồng tính. Theo đó, chúng ta có thể nói về một thần học lưu tâm đến những kinh nghiệm nảy sinh từ sự thay đổi xã hội, đặc biệt do quá trình hiện đại hóa công nghệ dẫn đến sự ra đời của thời đại kỹ thuật số. Dựa trên ánh sáng kinh nghiệm của tiến bộ kỹ thuật ngày nay, chúng ta có đủ lý do để bắt đầu thảo luận một cách nghiêm túc về một thần học theo bối cảnh tạm gọi là Thần học mạng.

 

Tìm kiếm Thiên Chúa trong môi trường kỹ thuật số

 

Thần học khởi đầu trước hết và trên hết bằng sự suy gẫm về việc con người tìm kiếm và tri nhận Thiên Chúa. Theo truyền thống, các Kitô hữu định vị Thiên Chúa trong khuôn khổ thời gian và không gian như được diễn tả trong “Kinh Lạy Cha”, nghĩa là Thiên Chúa ở trên “trời”. Thiên Chúa cũng là Thượng đế vĩnh cửu và tối cao của Vương Quốc sẽ đến vào thời viên mãn. Như Vịnh gia công bố: “Muôn lạy Chúa, lời Ngài bền vững; đến ngàn đời, trên cõi trời cao.[37] Con người hiểu về vĩnh cửu như tưởng tượng ngàn năm của Chúa ví như một ngày trong kinh nghiệm loài người: “Anh em thân mến, một điều duy nhất, xin anh em đừng quên: đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày.”[38] Bằng cách tưởng tượng thiên đàng là một nơi chốn cụ thể, còn vĩnh cửu là một ngày kéo dài vô tận, việc xác định Thiên Chúa hiện hữu ở đâu và thế nào có vẻ dễ hơn. Mặc dù các thần học gia khẳng định rằng thiên đàng không phải là một địa điểm vật lý, các tín hữu vẫn ngước mắt lên trời cao, vượt qua các vì sao để nghĩ tưởng về một nơi nào đó Thiên Chúa đang âu yếm nhìn xuống con cái của Người, trông thấy những niềm vui, nỗi buồn cũng như những thách đố và yếu đuối của họ. Điều này mang lại cho người ta cảm nhận có phương hướng và sự an toàn trong cuộc sống. Lavinia Byrne viết: “Không có gì đánh động trái tim con người cách mảnh liệt bằng lời hứa rằng họ sẽ được sống đời đời trên thiên đàng. Không có gì có thể an ủi bằng ý thức thêm ngày tháng nghĩa là có thêm cùng một loại thời gian, với bình minh và hoàng hôn đều đặn mỗi ngày để tính toán ngày giờ.”[39]


Tuy nhiên, khoa học hiện đại đã làm nhiều việc để xâm nhập vào các khái niệm được hiểu trước đây về Thiên Chúa và thiên đàng, ít nhất là đối với những người coi trọng sự phát triển khoa học. Có thuyết khoa học tuyên bố rằng không gian trên thực tế là vô hạn, do đó loại bỏ khả năng thiên đường có một vị trí cụ thể.[40] Điều này gây hoang mang đối với linh đạo bình dân, vì làm sao Thiên Chúa có thể ngự trên trời nếu một nơi như thế không tồn tại về mặt logic?[41] Các thần học gia cố gắng giải thích thực tại này bằng cách đưa ra sự hiện hữu của thế giới tinh thần siêu vượt không gian thông thường, hay giới thiệu khái niệm về “không gian bí tích” (sacramental space) ngay trong thế giới này hay trong cộng đồng Kitô giáo, nơi đó sự hiện diện của Thiên Chúa là thật và có thể cảm nhận được.[42]


Môi trường kỹ thuật số cũng tạo nên những cơ hội mới để đào sâu việc tìm hiểu về Thiên Chúa và hình dung Ngài hiện diện ra sao trong thế giới này. Lavinia Byrne lưu ý rằng khái niệm về vũ trụ bao gồm các nguyên tử khả giác tụ lại với nhau để tạo thành vật chất không còn là loại vũ trụ duy nhất mà con người có thể quan niệm nữa. Với không gian mạng tạo thành từ những con số phi vật lý, chúng ta được biết đến các chiều kích không gian mới tồn tại song song với thế giới các hạt nguyên tử. Byrne đặt câu hỏi:

Nếu thế giới kỹ thuật số có thể thâm nhập vào máy tính của chúng ta, vậy tại sao không có sự tương tự về tâm linh? Bổng nhiên khái niệm về Thiên Chúa là hợp lý vì có nơi mà Thiên Chúa có thể hiện hữu. Ý tưởng về các thiên thần nhảy múa trên đầu chiếc đinh ghim được khơi lại, bởi lẽ có gì đó hơn cả không gian và thời gian mà chúng ta có thể nhìn thấy hay thông truyền.[43]


Theo Singh, thế giới kỹ thuật số cung cấp một ẩn dụ về sự hiện diện của Thiên Chúa và cách thức hình dung về mọi sự trong một ý nghĩa mới của thời gian và không gian, trong đó những thông tin được cung cấp thông qua những dữ liệu kỹ thuật số.[44] Thực tại của thế giới kỹ thuật số giúp chúng ta vượt qua những giới hạn và thách đố mà khoa học nêu lên. Như thế, ẩn dụ này trình bày một hiểu biết sâu xa và một câu trả lời mới mẻ đối với câu hỏi: “Lạy Thầy, Thầy ở đâu?”.


Trong khi môi trường kỹ thuật số với những khả thể mới có thể giúp vượt qua những giới hạn trước đây do khoa học đặt ra, thì nó không hứa hẹn việc tìm hiểu về Thiên Chúa sẽ đơn giản và dễ dàng hơn. Trong quá khứ, người ta tìm đến những người có thẩm quyền như các linh mục, tu sĩ khi thắc mắc về Thiên Chúa, những vấn đề liên quan đến đạo, cũng như những điều trong đời sống thường nhật. Bởi lẽ các linh mục không chỉ được nhìn nhận là những hình tượng đáng tin cậy trong các vấn đề tâm linh, nhưng còn được xem như thuộc về nhóm những người có học thức cao, thậm chí có thể là cao nhất ở trong làng xóm hay thị trấn. Tại nhiều nơi ở châu Á, nhất là ở vùng quê, trường hợp này vẫn khá phổ biến. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người tham gia vào internet, truyền hình và các loại hình truyền thông khác để tìm kiếm câu trả lời cho họ, nhất là ở các nước phát triển.[45] Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, ảnh hưởng của các thể chế và cá nhân có thẩm quyền ngày càng giảm bớt.[46] Đồng thời, có quá nhiều thông tin trên internet khiến người ta dễ bị choáng ngợp bởi những gì bày ra trước mắt họ. Từ khóa “God” trên Google có thể cho ra hơn 2,5 tỷ kết quả.[47] Nếu tìm từ “พระเจ้า” (tiếng Thái), có thể cho ra gần 17 triệu mục, và từ “Thiên Chúa” (tiếng Việt) cũng cho kết quả hơn 41 triệu mục. Khi tìm kiếm hình ảnh bằng từ khóa “God”, kết quả là những hình ảnh hỗn hợp về Thiên Chúa của Do Thái giáo – Kitô giáo và Chúa Giêsu xuất hiện trên màn hình, cùng với các vị thần của các tôn giáo khác cũng như hình ảnh của các nhân vật khác nhau trong những trò chơi điện tử. Hiện tượng bị tấn công bởi thông tin dư thừa như thế được gọi là quá tải thông tin. Antonio Spadaro bình luận: “Vấn đề ngày nay không phải là tìm được một thông điệp có ý nghĩa, nhưng là biết giải mã chúng, nhận ra nó trên cơ sở của biết bao thông điệp chúng ta nhận được.”[48] Do đó, mặc dù có dư thừa thông tin, nhưng trớ trêu thay, trong kỷ nguyên kỹ thuật số, việc tìm kiếm Thiên Chúa lại có thể trở thành một kinh nghiệm đòi hỏi rất nhiều kiên nhẫn và sàng lọc qua vô số các loại dữ liệu mới tìm ra được điều mà người ta cần.


Mặc dầu vậy, người ta vẫn có thể không chắc rằng, nội dung mình đã tìm thấy có thực sự chính thống và bổ ích cho việc nuôi dưỡng tâm linh hay không. Như Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI nhận xét:

Thông thường xảy ra với các phương tiện truyền thông xã hội, ý nghĩa và hiệu quả của các hình thức biểu đạt khác nhau được quyết định bởi sự thịnh hành hơn là tầm quan trọng nội tại và giá trị của chúng. Và sự ưa chuộng thường gắn liền với người có danh tiếng hoặc với các chiến lược thuyết phục hơn là logic của biện luận.[49]


Hệ quả là nhận thức của một cá nhân về Thiên Chúa và mối tương quan với Ngài có thể bị định hình bởi một blog mà người đó theo dõi hơn là từ những trang web chính thức của Giáo hội, cho dù của Vatican hay giáo hội địa phương. Tuy nhiên, các ứng dụng internet đã tạo mẫu một cách thức để chúng ta tập trung hơn vào việc tìm hiểu về Thiên Chúa. Trong khi Google là một công cụ tìm kiếm theo cú pháp, nghĩa là dựa trên một số từ ngữ cụ thể có trong bản văn và hiển thị vô số kết quả, thì công cụ tìm kiếm theo ngữ nghĩa lại hoạt động trên một logic khác. Công cụ tìm kiếm theo ngữ nghĩa có xét đến mục tiêu và ngữ cảnh của thuật ngữ được sử dụng.[50] Nó cố gắng giải nghĩa suy nghĩ của người đang tìm kiếm và cung cấp thông tin họ cần. Ví dụ, khi đánh câu “Who is Jesus” vào công cụ tìm kiếm Google, kết quả xuất hiện trên đầu danh sách là những trang web có những từ khóa tương ứng. Tuy nhiên, khi cũng tìm kiếm như thế bằng ứng dụng WolframAlpha, một công cụ tìm kiếm theo ngữ nghĩa thì kết quả xuất hiện không phải là một danh sách các trang web, nhưng là một tấm hình và một loạt thông tin căn bản về Chúa Giêsu như ngày sinh, nơi sinh, ngày và nơi qua đời. Từ thông tin sẵn có trên web, nó cũng kê khai những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu. Lối hoạt động của ứng dụng WolframAlpha cũng như các công cụ tìm kiếm dựa trên ngữ nghĩa khác xem ra tiết kiệm công sức và thời gian hơn cho người sử dụng.


Tuy nhiên, không may là trong khi Google thường cho quá nhiều thông tin, thì công cụ tìm kiếm theo ngữ nghĩa thì không thể cung cấp câu trả lời cho mọi câu hỏi của người dùng. Ví dụ khi tìm kiếm “Where can I find God” (Tôi có thể tìm thấy Thiên Chúa ở đâu?) thì ứng dụng cho thông báo “Wolfram/Alpha không hiểu câu hỏi của bạn”, chứ không có câu trả lời đại loại như “Bạn có thể tìm thấy Chúa trên thiên đàng” hay “Bạn có thể gặp Chúa trong tâm hồn”. Cũng vậy, khi hỏi “Does God exist” (Thiên Chúa có hiện hữu không?) thì nhận câu trả lời sau: “Xin lỗi, một công cụ tri thức máy tính nghèo nàn, dù mạnh đến đâu cũng không thể trả lời cho câu hỏi này được.”


Logic của hai loại công cụ tìm kiếm cho thấy những cách thức khác nhau để con người có thể tìm hiểu về Chúa – một cái mang tính ngẫu nhiên, phụ thuộc chủ yếu vào sự tình cờ, cái còn lại có chủ đích, tập trung và chính yếu. Không may là một hình thức thì có thể cho quá tải thông tin; nhưng hình thức còn lại thì chẳng có thông tin gì cả. Thực tế của thời đại kỹ thuật số nhắc chúng ta nhớ rằng việc tìm kiếm về Thiên Chúa trong môi trường này có thể vừa thú vị vừa gây hoang mang. Một hành trình tìm Chúa sinh hoa kết trái dường như phụ thuộc vào năng lực của người biết cân bằng giữa việc để mọi thứ diễn ra một các ngẫu nhiên với việc đặt ra những câu hỏi quá hạn hẹp làm mất đi khả năng có những khám phá bất ngờ.


Kỷ nguyên kỹ thuật số không chỉ giúp đưa ra những cách thức mới để tìm gặp Chúa hiện diện trong thế giới, mà còn cung cấp những phương tiện để tìm kiếm Người bằng những cách vượt ra khỏi kênh truyền thống (như hàng phẩm trật hay cha xứ). Trong bối cảnh châu Á, internet tạo sự dễ dàng cho việc tìm hiểu về Chúa với những cách thức phong phú hơn, không chỉ ngang qua cha xứ hoặc các tu sĩ. Ở châu Á, Kitô giáo là một nhóm nhỏ, chiếm khoảng 4,5%.[51] Công giáo chỉ chiếm khoảng 3% dân số châu Á,[52] hơn 115 triệu người.[53] Hơn 63% người Công giáo châu Á sống ở Philippines và Đông Timor,[54] trong khi ở các nước khác thì Công giáo chiếm chưa đầy 1% dân số.[55] Thái Lan có khoảng 300,000 người Công giáo[56] trong số 67 triệu dân, còn Campuchia có khoảng 20,000 người Công giáo[57] trên tổng số 15 triệu dân. Việc tìm hiểu về Chúa và duy trì mối tương quan thân thiết với Người ở châu Á không chỉ bị thách đố bởi phương tiện giới hạn của Giáo hội nhưng còn vì ảnh hưởng sâu rộng của môi trường văn hóa tôn giáo nơi mà các Kitô hữu sinh sống.


Tiếp cận với internet tạo cơ hội để việc tìm kiếm này được thuận lợi hơn và mối tương quan với Chúa được nuôi dưỡng bằng những cách thức mới, khác với những gì sẵn có. Người Công giáo ở các vùng quê xa xôi có thể tìm được những tài liệu thiêng liêng hữu ích, khác với những bài giảng mà cha xứ lặp đi lặp lại, nhất là những vị không chỉ giảng Lời Chúa nhưng còn bỏ ra thêm thời giờ trong Thánh Lễ để dạy dỗ đủ điều về các vấn đề trong xứ đạo. Trong đợt dịch Covid-19 đầu tiên ở Việt Nam, khi các nhà thờ buộc phải đóng cửa, người Công giáo Việt Nam ở mọi lứa tuổi phải dự lễ online. Và nó trở thành một cơ hội cho nhiều người Công giáo lớn tuổi ở các vùng xa đã quen với việc dự lễ hằng ngày ở nhà thờ xứ được dự lễ trực tuyến lần đầu tiên qua điện thoại hay truyền hình thông minh. Có thể thấy nhiều người không chỉ dự lễ trực tuyến của giáo phận hay giáo xứ mình, nhưng cũng xem lễ được cử hành bởi các giáo xứ và giáo phận khác nữa.


Ngoài việc tạo cơ hội cho người Công giáo ở những làng quê nhỏ bé tiếp cận nhiều hơn với tài liệu thiêng liêng, internet cũng giúp các linh mục, tu sĩ, chủng sinh có thêm các nguồn tài liệu cho sứ vụ. Tôi từng được mời đi dạy học một số môn trong Đại chủng viện của Lào tại thành phố Thakhek. Khi vào trong thư viện, tôi nhận thấy nguồn tài liệu Kinh Thánh và thần học bằng tiếng Anh hay tiếng Lào đều rất giới hạn. Vì thế, các chủng sinh có nhu cầu học tập hay chuẩn bị bài suy niệm Lời Chúa để chia sẻ với người dân buộc phải dùng internet như công cụ hỗ trợ. Tại Thái Lan, nhiều Phật tử và những người muốn theo đạo Kitô giáo tham gia vào nhóm Facebook và các diễn đàn do một số giáo dân lập ra để trao đổi những vấn đề về đức tin.[58] Với sự hỗ trợ của internet, người ta có thể dễ dàng tiếp cận với Thiên Chúa hơn và các hình ảnh về Chúa được giới thiệu phong phú, đa dạng hơn.


Vì thế, người châu Á tìm kiếm, nhận thức và duy trì mối tương quan với Thiên Chúa ra sao có lẽ chịu ảnh hưởng nhiều bởi môi trường kỹ thuật số hiện đại giúp cho những việc đó thuận lợi hơn. Tuy nhiên, việc tìm hiểu về Thiên Chúa trong thời đại kỹ thuật số chẳng hứa hẹn dễ tiếp cận được chân lý hơn khi mà trên mạng có sẵn cả kho thông tin, và không phải dữ liệu nào cũng dẫn ta đi đúng hướng hay cung cấp nguồn dinh dưỡng cần thiết cho đời sống đức tin. Hơn bao giờ hết, việc tìm kiếm Thiên Chúa và vun trồng mối tương quan với Ngài đòi hỏi sự chủ động, cẩn trọng và kiên trì. Hình ảnh và cách tương quan mà một người xây dựng với Thiên Chúa không thể được chỉ định từ cấp trên như trong quá khứ nữa. Trong thời đại số, mỗi người phải biết trách nhiệm hơn với nhiệm vụ tâm linh của mình. Bên cạnh đó qua sự hiện diện và tham dự của từng người vào môi trường kỹ thuật số, họ cũng có thể góp phần vào cách người khác nhận ra và hiểu biết về Thiên Chúa.

 


Tương quan liên vị trong thời đại kỹ thuật số

 

Kể từ khi loại hình Web 2.0 ra đời, người dùng được trải nghiệm chuyển đổi từ việc xem thông tin cách thụ động sang việc tạo nội dung, tương tác và cộng tác với những người dùng khác,[59] không chỉ tập trung nhận hoặc trao đổi thông tin nhưng hướng đến tương quan nhân bản. Không giống các trang web truyền thống dựa trên chữ, trong đó các nhóm tin tức, danh sách thư từ không làm nổi bật được khía cạnh tương quan của người dùng, các nền tảng mạng xã hội nhắm đến việc đặt mối tương quan ở trung tâm. Trong mô hình mới này, khái niệm sự hiện diện (presence) được thay bằng kết nối (connection) hay kết nối hỗ tương (interconnection). Nếu không có sự kết nối hỗ tương giữa chúng ta và người khác trên internet, chúng ta chỉ là những thực thể đơn lẻ trên không gian mạng. Thật ra trên Facebook, người dùng có tùy chọn hoặc trở thành “bạn bè” của người khác nếu người đó có trang cá nhân (profile page), hoặc trở thành “người hâm mộ” của ai đó nếu họ có fan page. Mặc dù Facebook, Tiktok và WeChat thuộc nhóm những mạng xã hội phổ biến nhất hiện nay, vẫn có hàng trăm mạng xã hội khác được xây dựng để đáp ứng các mục đích, sở thích và văn hóa khác nhau…[60]


Dẫu rằng mô hình web mới nhấn mạnh đến tương quan, nhưng các tương quan trong môi trường này luôn luôn bị giới hạn, vì tính đa chiều của các tương quan luôn bị “san phẳng” cách nào đó bởi bản chất của công nghệ. Hệ quả là trên Facebook, bạn cùng lớp, ông bà, cha xứ ở ngoài đời thực cũng như những người ở một quốc gia mà chúng ta chưa gặp bao giờ cũng đều bị thu gọn trong một danh mục “bạn bè”. Còn trên Twitter, tất cả những người chúng ta nối kết đều là “người theo dõi” chúng ta. Cách nào đó những từ ngữ này không chỉ bỏ qua bản chất thực sự của mối tương quan giữa chúng ta và một người nào đó cụ thể nối kết với chúng ta, nhưng chúng còn làm sai lệch và bóp méo ý nghĩa của từ “bạn bè” hay “người theo dõi”. Theo Brett McCraken, trong thế giới Facebook, người ta chọn “bạn bè” như một thứ đồ sưu tầm để xây dựng hình ảnh và vị thế xã hội của chính mình. Người ta “kết bạn” trên Facebook hay “theo dõi” ai đó trên Twitter với chủ đích và theo chiến lược, và chúng ta đăng gì đó lên tường của họ hay gắn thẻ họ trong một bài đăng để công khai hóa mối tương quan đó cho mọi người đều biết.[61]


McCraken bình luận rằng cách người ta đưa các mối tương quan công khai lên thế giới trực tuyến, chia sẻ rộng rãi những thông tin đáng lẽ nên giữ “nội bộ”, và quản lý vi mô các mối tương quan xã hội bằng các bài đăng trên tường của mình hay trạng thái của người khác tạo nên những hành động giả tạo, “mang tính biểu diễn”, làm giảm giá trị các mối tương quan.[62] Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI cảnh báo trong Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông năm 2009: “Tình bạn đích thực là một trong những điều tốt đẹp nhất mà con người được trải nghiệm. Vì thế cần phải cẩn trọng, đừng bao giờ tầm thường hóa khái niệm hay kinh nghiệm về tình bạn.”[63] Cũng trong sứ điệp ấy, Đức Thánh Cha nhắc đến nguy cơ đầu tư thời gian và năng lực vào những mối quan hệ trực tuyến trong khi quên sót việc nuôi dưỡng các mối tương quan khác trong đời sống:


Thật đáng buồn nếu cái giá phải trả để duy trì và phát triển tình bạn trực tuyến lại là hy sinh sự gắn kết với gia đình, láng giềng và những người chúng ta gặp gỡ trong đời thường, nơi chúng ta làm việc, học hành và giải trí. Nếu bị ám ảnh bởi ước muốn kết nối ảo, người ta có thể cô lập chính mình khỏi những tương tác xã hội thực sự, đồng thời làm xáo trộn thời gian nghỉ ngơi, thinh lặng và suy tư cần thiết cho sự phát triển nhân bản cách lành mạnh.[64]


Quan điểm này dựa trên tư tưởng rằng việc nuôi dưỡng các mối tương quan thực sự cần đến chiều kích tiếp xúc cá nhân và thể lý mà không gian mạng không thể cung cấp. Cả Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI và vị tiền nhiệm của ngài là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tiếp xúc trực tiếp giữa con người trong mối tương quan hằng ngày, như đề cập trong các sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông của các ngài.[65] Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhận định: “Các mối tương quan qua trung gian điện tử không bao giờ có thể thay thế sự tiếp xúc trực tiếp giữa người với người.”[66]


Bất chấp những giới hạn của các mối tương quan qua web, thực tế và sự phổ biến của các tương quan đó mời gọi chúng ta không loại bỏ chúng hoàn toàn, nhưng cố gắng nhận biết sự tồn tại của chúng, cũng như tìm cách mở rộng những phạm vi hiện tại để thấu hiểu ý nghĩa đích thực của việc xây dựng mối tương quan với người khác cũng như gọi ai đó là người thân cận của mình. Mặc dù ba vị Giáo Hoàng gần nhất đều mời gọi cảnh giác với các mối quan hệ trực tuyến, tất cả ba vị đều hiểu rõ hoàn cảnh thực tế cũng như những cơ hội do những tương quan này có thể tạo ra. Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI khẳng định rằng hình thức “chuyển tải thông tin và kiến thức này làm nảy sinh cách thức mới để học hỏi và tư duy, với những cơ hội bất ngờ để thiết lập các tương quan và xây dựng tình bằng hữu.”[67] Nó không chỉ tạo điều kiện cho người ta đến với nhau, nhưng còn hỗ trợ việc loan báo Tin Mừng. Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI kêu gọi các linh mục đang đứng “trước ngưỡng cửa của thời đại mới khi những công nghệ mới tạo ra các hình thức tương quan sâu xa hơn và vượt qua những khoảng cách lớn hơn, hãy đáp ứng mục vụ bằng cách sử dụng truyền thông cách hữu hiệu hơn bao giờ hết cho việc phục vụ Lời Chúa.”[68]


Từ một góc nhìn cởi mở, chúng ta có thể nhận ra rằng các tương quan trực tuyến không luôn có nghĩa là ước muốn thoát khỏi những mối tương quan thực sự của đời sống, nhưng ngược lại, nói lên khát vọng sâu xa của con người là được giao tiếp với người khác. Các ứng dụng internet đa dạng giúp mọi người tham gia xây dựng các mối tương quan, chia sẻ thông tin, trao đổi ý tưởng, tạo ra các hình thức giải trí mới, có thể nói được là phản ánh khát vọng nối kết có gốc rễ sâu xa trong tâm hồn con người.[69] Chúng cũng thể hiện nhu cầu mở lòng ra với người khác và tìm sự hiệp thông với họ, một hành động giúp hoàn thành nhân tính của chúng ta.[70] Thời đại kỹ thuật số và các loại tương quan có thể xây dựng trong môi trường này buộc chúng ta tái duyệt xét và định nghĩa thế nào là một người bạn và thân cận.


Dụ ngôn về người Samari nhân hậu của Chúa Giêsu cho chúng ta thấy rằng việc xem ai là người thân cận không dựa trên chủng tộc hay địa vị xã hội, nhưng dựa trên sự mở lòng của chúng ta trước người khác. Trong dụ ngôn, một người Do Thái bị tấn công và bị cướp trên đường từ Giêrusalem đi Giêricô. Mặc dù anh ta nằm dở sống dở chết bên vệ đường, cả thầy tư tế và Lêvi đều đi ngang qua mà không đoái hoài. Cuối cùng, một người Samari tình cờ đi ngang qua chỗ nạn nhân và đã sẵn sàng tiến lại gần để chăm sóc và cứu nạn nhân khỏi nguy kịch. Trong xã hội Do Thái, người Samari bị coi thường và tương quan với họ là điều cấm kỵ, trong khi đó các thầy tư tế và Lêvi lại được rất kính trọng, vì họ thuộc tầng lớp người có học thức và quyền lực. Tuy nhiên, trong dụ ngôn, họ đã thất bại trong việc giúp đồng loại của mình, còn người Samari lại biểu tỏ được lòng trắc ẩn và thương xót với nạn nhân, vượt xa những gì người ta mong đợi nơi anh.


Dụ ngôn người Samari tốt lành trình bày một mô hình tương quan không bị giới hạn bởi những biên giới nhân tạo do các chuẩn mực văn hóa, xã hội, đạo đức hay tôn giáo áp đặt. Hơn nữa, dụ ngôn ấy còn nhấn mạnh đến những khả năng tạo tương quan của một con tim thấm nhuần lòng bác ái, trắc ẩn và xót thương. Mặc dù câu chuyện được Chúa Giêsu kể từ hai thiên niên kỷ trước, mô hình tương quan mà Ngài đề nghị vẫn không mất đi giá trị của nó qua mọi thời đại, ngay cả trong thời đại kỹ thuật số hiện nay. Nếu có khác thì chỉ là thời đại kỹ thuật số với những cơ hội và giới hạn có thể giúp chúng ta suy nghĩ về mô hình tương quan trong những cách thế mới. Không gian mạng là nơi mọi người trên thế giới với các bối cảnh văn hóa, tôn giáo và xã hội đa dạng có thể đến với nhau và tham gia vào sự trao đổi và chia sẻ hỗ tương; việc xây dựng rộng rãi các mối tương quan trên mạng cũng có thể biện minh cho lập luận rằng, nhu cầu hiệp thông của con người có khả năng và buộc phải vượt qua mọi trở ngại và rào cản. Nếu tương quan không nên bị giới hạn bởi yếu tố văn hóa, giới tính hay xã hội thì chúng cũng không nên bị kìm hãm bởi khoảng cách dù là vật lý hay kỹ thuật số.


Thời đại kỹ thuật số làm nổi bật mong muốn có người thân cận dù ở bất cứ tuổi nào. Có một số người cho rằng bận tâm với các mối tương quan trực tuyến cản trở chúng ta tìm hiểu về những người sống trong cùng khu phố và ngay cả người đang sống cạnh nhà chúng ta. Tuy nhiên, cũng cần phải đặt câu hỏi: Liệu mối bận tâm với tương quan trực tuyến là nguyên do gây ra khoảng cách với người hàng xóm bên cạnh, hay đó chỉ là kết quả phản ánh về một xã hội mà có nhiều người không hay biết tên người hàng xóm dù đã sống nhiều năm bên cạnh họ? Và vì thế người ta buộc phải đi tìm mối tương quan ở môi trường khác để thay thế cái mà người ta không tìm ra được trong không gian vậy lý?


Đây là vấn đề được gọi là “con gà và quả trứng” – cái nào có trước? Vào những năm cuối của thập kỷ vừa qua, các ứng dụng mạng xã hội dựa trên vị trí Foursquare và Gowalla đã được phát hành. Foursquare là một ứng dụng thông qua mô tả của chính người dùng về sở thích và những nơi thường lui tới cũng như phản hồi của người dùng khác để đưa ra đề xuất về các địa điểm trong khu vực hiện hành.[71] Gowalla, ra đời năm 2007 và đóng lại năm 2012, là một ứng dụng cho phép người dùng check-in những địa điểm mà họ đến.[72] Gowalla sau đó đã được Facebook mua lại,[73] và từ khi đó chức năng check-in đã trở thành một trong những chức năng thịnh hành nhất của Facebook. Việc check-in trên mạng xã hội tiết lộ rõ ràng cho tất cả “bạn bè” của chúng ta biết sự hiện diện của chúng ta ở một địa điểm cụ thể, tạo điều kiện cho những cuộc gặp gỡ trực tuyến và cả thể lý nữa.[74] Do đó, việc check-in có thể giúp những người bị xa cách về địa lý hay thiếu thông tin đến với nhau để cùng uống cà phê, xem phim hay hẹn hò nữa. Antonio Spadaro đặt vấn đề: “Cái gì khiến cho người ta liên tục xâm phạm quyền riêng tư của mình để đưa thông tin về sự di chuyển của mình lên thế giới kỹ thuật số của họ?”[75] Spadaro tự trả lời: “Dĩ nhiên điều này diễn tả ước muốn gần gũi, một ước muốn đem thế giới các mối tương quan của chính mình lên mức độ tiếp xúc thực sự” (tác giả thêm chữ in nghiêng).[76] Thật vậy, các ứng dụng mạng xã hội khai thác chức năng định vị và check-in cho thấy rằng trong nền văn hóa đương đại, mong muốn sâu xa có những tương quan ý nghĩa và hiệp thông với người khác tiếp tục định hướng cho sự phát triển công nghệ. Cách nào đó, những tiến bộ kỹ thuật này giúp chúng ta đương đầu với và bù đắp cho thực trạng ngày càng khó tìm được cơ hội để dừng lại trước sân nói chuyện với người hàng xóm hay quy tụ bạn bè, gia đình thường xuyên sau giờ làm việc hay vào dịp cuối tuần.


Mô hình tương quan trong dụ ngôn người Samari nhân hậu nhắc nhớ một điều quan trọng là trở nên người thân cận đòi chúng phải hành xử cách thân cận. Trở nên thân cận rõ ràng là nói về một điều sâu xa hơn là sự gần gũi về mặt thể lý hay sự tham gia vào các cuộc tiếp xúc trực tiếp. Nó nói đến cách chúng ta đối xử với nhau, đặc biệt trong lúc khó khăn hoạn nạn. Môi trường kỹ thuật số không chỉ giúp chúng ta có thể giữ liên lạc với nhiều người hơn trong xã hội truyền thống, mà còn biết nhiều hơn về đời sống của biết bao người trên thế giới. Thuật ngữ “từ thiện lan truyền” (viral philanthropy) hay “bác ái lan truyền” (viral charity) ra đời trong thời đại internet để mô tả những sáng kiến bác ái trên thế giới trực tuyến, dù có kế hoạch hay tự phát, đã quyên góp được những số tiền khổng lồ cho cá nhân và nhóm người, đôi khi hơn rất nhiều so với mục tiêu ban đầu của kế hoạch. Trong đại dịch Covid-19, một khách hàng nữ của cà phê Starbucks ở San Diego, California cố tình hạ nhục nhân viên pha chế tên là Lenin Gutierrez trên tài khoản Facebook sau khi anh ta từ chối phục vụ cô, vì cô không đeo khẩu trang theo quy định của công ty. Bài đăng của cô ấy đã thu hút hàng trăm nghìn lượt bình luận, nhưng hầu hết để bảo vệ Gutierrez. Cùng lúc đó, vào ngày 22/06/2020, một cư dân mạng tên là Matt Cowan thuộc Irvine, California, người không biết nhân viên pha chế kia, đã quyết định lập một hộp tiền thưởng trên trang mạng xã hội GoFundMe với tiêu đề “Thưởng cho Lenin đã đấu tranh với San Diego Karen."[77] Dù mục tiêu ban đầu là quyên góp số tiền thưởng 1.000 USD, nhưng trên thực tế, số tiền thu được cho đến ngày 20/08/2020 lại lên đến 105.000 USD.[78] Nhận được sự hỗ trợ đầy bất ngờ từ những người hoàn toàn xa lạ, Gutierrez cảm thấy vô cùng biết ơn. Trong một video đăng trực tuyến, nhân viên pha chế trẻ tuổi cho biết anh sẽ dùng số tiền đó để thực hiện ước mơ trở thành một vũ công và dạy múa cho các trẻ em. Sự việc kể trên xem ra đáng ngạc nhiên; tuy nhiên, trong thời đại mạng xã hội, sự việc các chiến dịch từ thiện bất ngờ lan truyền, thu góp được số tiền khổng lồ cho cá nhân và tổ chức ngày nay khá phổ biến.


Trong khi thời đại kỹ thuật số chứng minh sức mạnh và khả năng của tình đồng loại, nó vẫn chưa thể đáp ứng mô hình tương quan mà Chúa Giêsu đặt ra. Trong dụ ngôn, trước khi người Samari trả tiền nhà trọ cho nạn nhân giúp anh phục hồi, thì câu chuyện cho chúng ta biết rằng người Samari “đã nhìn thấy nạn nhân và động lòng trắc ẩn. Người đó lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc.”[79] Từ hành động của người Samari nhân hậu, chúng ta nhận ra rằng việc thực hiện hành động mang tính thân cận có ý nghĩa sâu xa hơn đơn thuần việc bỏ tiền ra để trợ giúp người túng thiếu. Chiếu theo những gì người Samari nhân hậu đã làm, rõ ràng tiền bạc không được xếp đầu tiên trong hệ thống thứ tự. Trở nên thân cận trong mô hình của Chúa Giêsu nghĩa là nhận biết sự hiện diện của ai đó, là nhìn thấy nỗi đau khổ của họ, là động lòng thương với họ. Hơn nữa, nó đòi hỏi cả chiều kích thể lý, như trong dụ ngôn thể hiện qua những hành động đến gần, băng bó vết thương, xức dầu và rượu, đỡ nạn nhân lên lừa và đem về quán trọ. Những hành động cụ thể, gần gũi và trực tiếp này ngụ ý rằng những tương quan đích thực đòi hỏi các khía cạnh thể hiện khác ngoài các khía cạnh như tình cảm và tinh thần.


Theo Đức Thánh Cha Phanxicô, hình ảnh của người Samari chăm sóc người bị thương đã biểu lộ được ý nghĩa thực sự của tình thân.[80] Còn Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI nhắc chúng ta “Luôn luôn phải nhớ rằng tiếp xúc trực tuyến không thể và không được thay thế việc tiếp xúc trực tiếp giữa người với người ở mọi cấp độ của đời sống.”[81] Bởi lẽ chỉ trong giao tiếp trực tiếp, con người mới xức dầu và rượu lên được vết thương của người khác, như trong trường hợp người Samari nhân hậu và nạn nhân người Do Thái, hay mới có thể rửa chân cho người khác như Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly. Sự nối kết tình cảm và tinh thần giữa các cá nhân trong môi trường kỹ thuật số phải được bổ sung, cụ thể hóa và hiện thực hóa qua những biểu lộ diễn ra trong không gian thể lý.


Như chúng ta thấy, mặc dù môi trường kỹ thuật số đem lại những khía cạnh mới cho các tương quan liên vị, chúng vẫn có những giới hạn trong việc thể hiện các tương quan đó trong đời sống thực tế. Hơn nữa, khi các tương quan phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của công nghệ và khả năng của con người được tiếp cận với nó, thì sẽ luôn luôn có nguy cơ sự tiếp cận ấy không được bình đẳng, dẫn đến chênh lệch giàu nghèo. Trong kỷ nguyên kỹ thuật số này, sự chênh lệch trong việc tiếp cận được gọi là “khoảng cách kỹ thuật số”, là một vấn đề thực tế trên thế giới cũng như tại Á châu. Người ta ước tính đến tháng 07 năm 2020, số người dùng internet trên thế giới là 4,7 tỷ, chiếm 59% dân số toàn cầu. Tuy nhiên vẫn còn có 41% dân số thế giới không tiếp cận được internet.[82] Những lý do dẫn đến thiếu tiếp cận internet bao gồm thiếu phủ sóng 4G, không thể trả phí dịch vụ, không có nội dung bằng ngôn ngữ mà người dùng có thể hiểu được. Khoảng cách kỹ thuật số dễ thấy trong bối cảnh châu Á. Trong khi Hàn Quốc, Brunei và Nhật Bản có tỷ lệ người dùng internet lần lượt là 96%, 95,3% và 93,8%, dẫn đầu cả ở châu Á lẫn thế giới, thì Bắc Hàn có tỷ lệ chỉ khoảng 0,1%. Afghanistan và Turmenistan có tỷ lệ người dùng internet là 18,8% và 20,9%.[83] Trong khi Singapore xếp thứ hai trên thế giới về Chỉ số sẵn sàng kết nối (NRI), Yemen lại xếp cuối danh sách. Pakistan, Nepal, Campuchia và Lào thuộc số 20 nước có điểm số NRI thấp nhất.[84]


Không chỉ có khoảng cách kỹ thuật số trong dân chúng nói chung, còn có khoảng cách lớn liên quan đến giới tính. Tại châu Á, tỷ lệ nam giới truy cập internet là 54,6% vượt nữ giới chỉ có 41,3%.[85] Khoảng cách kỹ thuật số theo giới tính không được cải thiện, mà còn tệ hơn trong những năm vừa qua. Theo Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), từ 2013 – 2017, sự chênh lệch tăng từ 17% lên 24%. Indonesia, một trong các quốc gia thành viên ASEAN, có độ chênh lệch kỹ thuật số về giới tính cao nhất trong khối kinh tế APEC.[86] Độ chênh lệch này không chỉ do nghèo đói nhưng còn vì thái độ và hạn chế mang tính thể chế và văn hóa – xã hội gây cản trở người nữ tiếp cận và truy cập internet.


Những con số thống kê nêu trên cho thấy rằng các tương quan liên vị được hình thành và duy trì bằng công nghệ kỹ thuật số có liên quan đến công bằng xã hội, vì khoảng cách trong xã hội được thể hiện dưới hình thức mới – sự khác biệt giữa người có điều kiện và không có điều kiện để tiếp cận với công nghệ. Khoảng cách kỹ thuật số là khoảng cách giữa “giàu thông tin” và “nghèo thông tin”. Do đó, nếu công nghệ là trung gian đầu tiên cho các tương quan liên vị của chúng ta, thì rất có thể chúng ta chỉ tương tác với những người có tình trạng tương tự về xã hội và công nghệ như chúng ta. Những người “nghèo kỹ thuật số” trở thành những người ở đâu đó mà chúng ta có lẽ chỉ biết qua các bản báo cáo hay tin tức, nhưng không có cơ hội để biết về họ cách cá vị sâu xa hơn. Vì vậy, khoảng cách kỹ thuật số cản trở tiềm năng đưa mọi người thuộc mọi bối cảnh lại gần nhau của internet, nhất là ở lục địa Á châu.

 

***


Bài viết này đào sâu hai khía cạnh cơ bản của thần học mạng ngang qua phần thảo luận về những cách chúng ta tương quan với Chúa và với anh em đồng loại trong kỷ nguyên số. Những bàn luận cho thấy internet và thần học mạng tạo điều kiện cho chúng ta thấu hiểu rằng, chúng ta có thể nhận thức về sự hiện diện của Thiên Chúa theo nghĩa ẩn dụ, thay vì giới hạn Ngài trong thời gian lẫn không gian. Trong khi khoa học với những khám phá về thời gian và không gian dường như loại trừ khả năng có thiên đàng như một nơi chốn xa xôi nào đó và khiến cho tín ngưỡng bình dân trở nên phi lý, thì công nghệ mới với không gian mạng được tạo ra bởi những con số vô hình, không đụng chạm được, lại cho chúng ta thấy rằng sự hiện diện thực sự và đích thực không đòi hỏi phải mang tính chất vật lý.


Phát minh mạng internet cũng giúp cho hình ảnh về Thiên Chúa trở nên phong phú hơn cho những người mong muốn tìm hiểu về Ngài, bởi lẽ nhận thức về Chúa thế nào không nhất thiết được định hình từ một nguồn tài liệu chính thức duy nhất của Giáo hội, hay theo tư tưởng của một cá nhân nào đó trong Giáo hội, nhưng đến từ vô số nguồn chính thống lẫn không chính thống. Bên cạnh những gì chúng ta hiểu về Chúa qua những bài giáo lý truyền thống, nhận thức của chúng ta về Chúa và mối tương quan với Ngài có thể chịu ảnh hưởng bởi các bài viết của những thần học gia chuyên môn và cả người viết blog nghiệp dư, các bài đăng của Đức Giáo Hoàng trên Twitter cũng như chứng từ của một người bạn trên mạng xã hội. Nếu như kỷ nguyên kỹ thuật số xác nhận thực tế rằng Thiên Chúa không thể bị giới hạn trong bất cứ yếu tố vật lý nào, thì nó cũng làm cho việc đóng khung Chúa trong bất kỳ tín điều hay học thuyết cụ thể nào trở nên khó thực hiện hơn bao giờ hết.


Bối cảnh mới cũng làm cho các biên giới truyền thống quanh các mối tương quan liên vị cũng được biến đổi đáng kể. Thời đại kỹ thuật số cho chúng ta thấy tình thân không chỉ vượt trên điều kiện xã hội, văn hóa và tôn giáo, nhưng còn siêu vượt cả không gian vật lý và tự thể hiện trên không gian mạng bằng những cách rất chân thực và ý nghĩa. Không thể phủ nhận rằng những tương quan liên vị được nuôi dưỡng thực sự cần phải có một số mức độ biểu hiện. Như đã được chứng minh, khi được sử dụng cách nghèo nàn, môi trường kỹ thuật số sẽ cô lập con người và tạo ra một hình thức thoát ly; còn nếu được sử dụng cách khôn ngoan, nó lại trở thành những công cụ vô cùng hữu hiệu cho con người thực hiện ước vọng sâu xa nhất là được hiệp thông với người khác.


Đối với người Công giáo tại châu Á, môi trường kỹ thuật số có tiềm năng tác động đến mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa và với người khác cách sâu xa. Là thành phần tôn giáo thiểu số trong lục địa rộng lớn của các tôn giáo lớn trên thế giới, sống chung với những người thuộc các tín ngưỡng khác, việc tìm hiểu về Chúa và nhận thức về Ngài của người châu Á sẽ được phong phú hóa nhờ những gì internet cung cấp, thêm vào những điều kiện hiện nay hình thành nên niềm tin và tâm linh của chúng ta. Tuy nhiên, người châu Á phải nỗ lực để vượt qua thách đố về khoảng cách kỹ thuật số đang tách biệt người giàu – người nghèo, nam và nữ có nguy cơ làm mất đi tiềm năng của những tương quan liên vị. Thay vì giúp xóa bỏ những biên giới đang tồn tại giữa các cá nhân, khoảng cách kỹ thuật số có thể lại trở thành một hình thức khác làm người ta xa cách nhau.


Việc suy tư về những khía cạnh thần học đa dạng có nguồn cảm hứng và gắn liền với kỷ nguyên kỹ thuật số còn là một nhiệm vụ khá mới. Tuy nhiên, hoạt động này sẽ phát triển khi thế hệ các thần học gia mới là “những người nhập cư kỹ thuật số”, và đặc biệt là những “cư dân kỹ thuật số bản xứ” suy tư sâu xa hơn về ý nghĩa thần học của bối cảnh mới này. Dù vậy, nghiên cứu này đã cố gắng góp phần vào tiến trình suy tư có hệ thống khi xem xét môi trường kỹ thuật số do công nghệ tạo ra đã tích hợp vào đời sống con người ra sao, từ đó kêu gọi và cổ võ cho nỗ lực hình thành nền thần học mạng trong tương lai một cách rõ nét hơn.


[1] Courtney Mares, “Pope Francis: Digital revolution forces us to rethink what it means to be human,” Catholic News Agency (24/11/2021), https://www.catholicnewsagency.com/news/249692/pope-francis-the-digital-revolution-forces-us-to-rethink-what-it-means-to-be-human.

[2] Antonio Spadaro, Cybertheology: Thinking Christianity in the Era of the Internet [Thần học mạng: Kitô giáo trong thời đại Internet] (New York: Fordham University Press, 2014)

[3] Spadaro, Cybertheology, viii.

[4] Spadaro, Cybertheology, ix.

[5] Heidi A. Campbell, “An Introduction to Digital Ecclesiology: What Does a Conversation on Digital Ecclesiology Look Like?” trong Digital Ecclesiology: A Global Conversation, ed. Heidi A. Campbell (Digital Religion Publications, 2020), 6.

[6] Ched Spellman, “The Canon after Google: Implications of a Digitized and Destabilized Codex” Princeton Theological Review 17, no. 2 (2010): 39-40.

[7] Trong những năm gần đây, có hàng nghìn tờ báo tại Hoa Kỳ đã ngừng hoạt động, hoặc buộc phải đổi qua hình thức số để tồn tại.

[8] Bài nghiên cứu và việc viết tài liệu này được thực hiện 90% trực tuyến với sự hỗ trợ của máy tính sách tay, thiết bị đọc sách Kindle và Ipad.

[9] Ủy ban Giáo hoàng về Truyền thông, “Giáo hội và Internet,” http://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/pccs/documents/rc_pc_pccs_doc_20020228_church-internet_en.html.

[10] Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI, “Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2013,” http://w2.vatican.va/content/benedict-xvi/en/messages/communications/documents/hf_ben-xvi_mes_20130124_47th-world-communications-day.pdf.

[11] Wikipedia, “Internet,” https://en.wikipedia.org/wiki/Internet.

[12] Oxford Languages and Google, “Cyberspace,” https://languages.oup.com/google-dictionary-en/.

[13] Sunshine Recorder, “Neil Postman on Cyberspace,” http://sunrec.tumblr.com/post/73223445766/neil-postman-on-cyberspace-1995.

[14] Tomasz Mazuryk and Michael Gervautz, “Virtual Reality: History, Applications, Technology and Future,” https://www.cg.tuwien.ac.at/research/publications/1996/mazuryk-1996-VRH/TR-186-2-96-06Paper.pdf : 3. 

[15] Mazuryk and Gervautz, “Virtual Reality,” 4.

[16] Chris Woodford, “Virtual Reality,” http://www.explainthatstuff.com/virtualreality.html.

[17] Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI, “Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2013”.

[18] Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, “Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2002,” http://w2.vatican.va/content/john-paul-ii/en/messages/communications/documents/hf_jp-ii_mes_20020122_world-communications-day.html.

[19] Trong các quốc gia Phật giáo Nam Tông của Đông Nam Á, hình ảnh các nhà sư đi khất thực ở các khu chợ mỗi buổi sáng là bình thường.

[20] Sam Han and Kamaludeen Mohadmed, Digital Culture and Religion in Asia (London: Routledge, 2016), Kindle edition.

[21] Spardaro, Cybertheology, 2-3.

[22] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc, 37c, http://w2.vatican.va/content/john-paul-ii/en/encyclicals/documents/hf_jp-ii_enc_07121990_redemptoris-missio.pdf. Cũng trong năm đó, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đề cập đến sự quan trọng của truyên thông vi tính và văn hóa vi tính đối với sứ mệnh loan báo Tin Mừng của Giáo hội trong “Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông”. http://w2.vatican.va/content/john-paul-ii/en/messages/communications/documents/hf_jp-ii_mes_24011990_world-communications-day.html. 

[23] Domenico Pomili, Il nuovo ell’antico. Comunicazione e testimonianza nell’era digitale [Cái mới trong cái cũ: Truyền thông và Chứng tá trong kỷ nguyên kỹ thuật số] (San Paolo, Italy: Cinisello Balsamo, 2011): 62.

[24] Center for Digital Theology, “What is digital theology,” (11/05/ 2020), https://www.dur.ac.uk/digitaltheology/.

[25] Debbie Herring, http://www.cybertheology.net/.

[26] M. Peter Singh, “An Overview of Cybertheology” (Paper presented at Seminar on Ekklesiology in Cyber Age, Bangalore, June 26-27, 2014). Kindle edition.

[27] Spadaro, Cybertheology, 17.

[28] Đây là một định nghĩa tạm thời của tác giả. Định nghĩa này cần được điều chỉnh khi việc suy tư về thần học mạng phát triển ở một mức có hệ thống hơn. Tuy nhiên, ở thời điểm này, theo tác giả thì định nghĩa này là tạm đủ để giúp chúng ta hiểu về thần học mạng một cách phổ quát.

[29] Thuật ngữ “cư dân kỹ thuật số” và “người nhập cư kỹ thuật số” được Marc Prensky đề ra trong bài báo nổi tiếng của ông “Digital Natives, Digital Immigrants,” On the Horizon, 9.5 (2001):1-2 để phân biệt giữa thế hệ sinh ra và lớn lên sau sự ra đời của công nghệ kỹ thuật số và thế hệ những người sinh trước đó.

[30] Stephen B. Bevans, Models of Contextual Theology [Những mô hình thần học theo bối cảnh] (New York: Orbis Books, 2012), 7-8.

[31] Bevans, Models of Contextual Theology, 15.

[32] Quoted in Carlos Mondragon, Like Leaven in the Dough: Protestant Social Thought in Latin America, 1920-1950 (Plymouth, UK: Rowman and Littlefield Publishing House, 2011), 28.

[33] Elizabeth A. Morelli and Mark D. Morelli, Ed., The Lonergan Reader (Toronto: University of Toronto Press, 1997), 443.

[34] Bevans, Models of Contextual Theology, 5-6.

[35] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, 117, https://w2.vatican.va/content/dam/francesco/pdf/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium_en.pdf.

[36] Evangelii Gaudium, 118.

[37] Psalm 119:89 (NIV).

[38] 2 Peter 3:8 (NIV).

[39] Lavinia Byrne, “God in Cyberspace,” [Thiên Chúa trên không gian mạng,] (2000), http://www.ed.ac.uk/files/imports/fileManager/godper cent20inper cent20cyberspace.pdf.

[40] Singh, “Overview of Cybertheology.”

[41] Byrne, “God in Cyberspace.”

[42] Byrne, “God in Cyberspace.”

[43] Byrne, “God in Cyberspace.”

[44] Singh, “Overview of Cybertheology.”

[45]Philip Clayton, “Theology and the Church after Google,” Princeton Theological Review 17, No. 2 (2010): 8

[46] Philip Clayton, “Theology and the Church after Google,” 14.

[47] Việc tìm kiếm này được thực hiện ngày 25/8/ 2020.

[48] Spadaro, Cybertheology, 23.

[49] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2013.

[50] Wikipedia, “Semantic Search,” https://en.wikipedia.org/wiki/Semantic_search.

[51] FABC Papers No.131, “A Glimpse at Dialogue in Asia,” 3.

[52] Ibid.

[53] James H. Kroeger, “An ‘Asian’ Dialogue Decalogue: Principles of Interreligious Dialogue from Asia’s Bishops,” http://www.lst.edu/academics/landas-archives/353-an-qasianq-dialogue-decalogue-j-kroeger-mm.

[54] FABC Papers No.131, 3.

[55] Kroeger, “An ‘Asian’ Dialogue Decalogue.”

[56] Udomsarn, “How Many Thai Catholics Are There Really?” http://www.thaicath.net/diarybible/cathsuebsiri/word/enew05.htm.

[57] Wikipedia, “Roman Catholicism in Cambodia,” https://en.wikipedia.org/wiki/Roman_Catholicism_in_Cambodia.

[58] Theo người quản trị diễn đàn “New Manna”, có hàng chục người đã theo Kitô giáo một phần vì tham gia diễn đàn này. http://www.newmana.com/phpbb/index.php.

[59] Thuật ngữ Web 2.0 được Tim O'Reilly và Dale Dougherty đưa ra tại Hội nghị O'Reilly Media năm 2004. Những điển hình của Web 2.0 là mạng xã hội, blogwikifolksonomies, web chia sẻ video, các dịch vụ lưu trữ, các ứng dụng Web và mashup

[60] Wikipedia cung cấp một danh sách vô tận những mạng xã hội đang hiện hành hoặc không còn tồn tại trên toàn thế giới, https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_social_networking_trang webs.

[61] Brett McCraken, “The Separation of Church and Status: How Online Social Networking Helps and Hurts the Church,” Princeton Theological Review 17, No. 2 (2010): 26

[62] Ibid., 27

[63] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2009, http://w2.vatican.va/content/benedict-xvi/en/messages/communications/documents/hf_ben-xvi_mes_20090124_43rd-world-communications-day.pdf.

[64] Ibid.

[65] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2011, https://w2.vatican.va/content/benedict-xvi/en/messages/communications/documents/hf_ben-xvi_mes_20110124_45th-world-communications-day.html.

[66] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2002, http://w2.vatican.va/content/john-paul-ii/en/messages/communications/documents/hf_jp-ii_mes_20020122_world-communications-day.html.

[67] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2011.

[68] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2010, https://w2.vatican.va/content/benedict-xvi/en/messages/communications/documents/hf_ben-xvi_mes_20100124_44th-world-communications-day.html.

[69] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2013.

[70] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2009.

[71] Wikipedia, “Foursquare,” https://en.wikipedia.org/wiki/Foursquare.

[72] Wikipedia, “Gowalla,” https://en.wikipedia.org/wiki/Gowalla.

[73] Ibid.

[74] Spadaro, Cybertheology, 33.

[75] Ibid., 34

[76] Ibid.

[77] Theo Wikipedia, “Karen” là từ mang tính tiêu cực được dùng ở Hoa Kỳ và các quốc gia nói tiếng Anh, để nói về một người nữ yêu cầu hay đòi hỏi điều gì vượt quá sự hợp lý hoặc cần thiết. Thường là người nữ da trắng dùng vị thế xã hội của mình để đòi hỏi cho mình những điều không thỏa đáng. https://en.wikipedia.org/wiki/Karen_(pejorative)#:~:text=Karenper cent20isper cent20aper cent20pejorativeper cent20term,atper cent20theper cent20expenseper cent20ofper cent20others.

[78] "Tips for Lenin Standing up to a San Diego Karen," https://www.gofundme.com/f/tips-for-lenen-standing-up-to-a-san-diego-karen

[79] Luke 10:33-34 (NIV).

[80] Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2014, https://w2.vatican.va/content/francesco/en/messages/communications/documents/papa-francesco_20140124_messaggio-comunicazioni-sociali.html.

[81] Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, “Sứ điệp ngày Thế giới Truyền thông 2011.”

[82] We Are Social, “Digital use around the world in July 2020,” https://wearesocial.com/blog/2020/07/digital-use-around-the-world-in-july-2020.

[83] “Sử dụng Internet ở châu Á, 31 tháng Năm năm 2020” https://www.internetworldstats.com/stats3.htm.

[84] “Chỉ số sẵn sàng kết nối NRI năm 2019 của các quốc gia,” https://networkreadinessindex.org/nri-2019-countries/#complete-ranking.

[85] “Working towards closing the digital denger gap in Asia,” [Nỗ lực xóa bỏ khoảnh cách kỹ thuật số theo giới tính ở châu Á], Web Foundation (03/04/2020), https://webfoundation.org/2020/04/working-towards-closing-the-digital-gender-gap-in-asia/

[86] “Digitgal divide is getting wider” [Khoảnh cách kỹ thuật số theo giới tính ngày càng rộng], Bangkok Post (11 May 2020), https://www.bangkokpost.com/opinion/opinion/1915812/digital-gender-divide-is-getting-wider

Chia sẻ