Skip to content
Top banner

Truyền Thông Xã Hội và Truyền Giáo

COMMUNICATION-THEOLOGY
2024-05-14 23:22 UTC+7 68

Nguyên tác: George Plathottam SDB. Social Communication and Evangelisation. In Communication for Pastoral Leadership, Book 3: Theological Perspectives in Social Communication. New Delhi: Don Bosco Communication India. 2010. Pages 55-59. ISBN: 978-81-87060-43-7

Chuyển ngữ: Lm. Phêrô Nguyễn Văn Dũng, OFM

 

Giới thiệu

Ngay từ khi mỗi phương tiện truyền thông xã hội mới xuất hiện, Giáo hội đã nhanh chóng tiếp nhận chúng để thực hiện sứ mệnh được giao phó. Cuốn sách in đầu tiên là Kinh Thánh, ra đời năm 1456. Chỉ hai tháng sau khi chương trình phát thanh thường xuyên bắt đầu vào năm 1920, một buổi lễ tôn giáo được lên lịch thường xuyên đã xuất hiện trên sóng phát thanh. Các chương trình tôn giáo cũng nằm trong số những chương trình truyền hình đầu tiên vào năm 1940. Trong lòng Giáo hội, luôn có những người truyền thông nhiệt huyết, những người đã nỗ lực nâng tầm nhìn của Giáo hội để nhận ra tiềm năng to lớn của truyền thông đại chúng. Tuy nhiên, một số lời phê bình gay gắt nhất đối với việc Giáo hội sử dụng truyền thông đại chúng lại đến từ chính nội bộ Giáo hội.

Truyền Giáo và Các Văn Kiện Giáo Hội về Truyền Thông Xã Hội

Thuật ngữ “truyền giáo”, ngày càng được sử dụng phổ biến trong ngành truyền giáo đương đại, không phải là một khái niệm mới. Nó có nền tảng sâu xa trong Kinh Thánh và đã trở thành một cách gọi khác cho sứ mệnh của Giáo hội. Ý nghĩa của thuật ngữ này không chỉ được mở rộng mà còn trở thành một khái niệm "bao trùm", kết hợp nhiều ý tưởng khác nhau. Thuật ngữ "truyền giáo" đã được trình bày một cách toàn diện nhất trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi (EN) của Đức Giáo hoàng Phaolô VI, được xuất bản vào năm 1975. Văn kiện này là thành quả của Thượng Hội đồng Giám mục. Trong EN, Đức Giáo hoàng Phaolô VI định nghĩa việc truyền giáo là một quá trình phức tạp bao gồm nhiều yếu tố khác nhau: "đổi mới nhân loại, làm chứng, tuyên xưng rõ ràng, gắn bó nội tâm, gia nhập cộng đồng, chấp nhận các dấu chỉ, các sáng kiến tông đồ" (EN 24).

Mặc dù thuật ngữ hoặc cách diễn giải có thể khác nhau, nhưng động lực truyền giáo thể hiện rõ ràng trong các văn kiện của Giáo hội về truyền thông xã hội. Trong Vigilanti Cura (VC), Đức Piô XI đã nói về tầm quan trọng ngày càng tăng của truyền thông đại chúng. Ngài nhấn mạnh: "Điều cấp thiết và cần thiết là phải đảm bảo rằng bất kỳ ân huệ nào của Thiên Chúa mà sự tiến bộ của thời đại đã bổ sung vào việc học hỏi của con người hoặc kỹ năng kỹ thuật và khoa học, đều có thể phục vụ cho vinh quang của Thiên Chúa, sự cứu độ các linh hồn và việc thúc đẩy triều đại của Chúa Giêsu Kitô" (VC 6).

Trong Miranda Prorsus (MP), Đức Piô XII cũng thể hiện rõ động lực này: "Nếu những người khác muốn gửi thông điệp, thì Giáo hội cũng có thông điệp riêng cần truyền đạt đến từng cá nhân, và lý do của Giáo hội thuyết phục hơn nhiều. Thông điệp của Giáo hội là thông điệp về sự cứu độ đời đời; một thông điệp về sự phong phú và sức mạnh vô song; một thông điệp mà mọi người thuộc mọi chủng tộc và mọi thời đại phải lắng nghe và đón nhận" (MP 4, xem thêm 22,23, 96).

Văn kiện Inter Mirifica (IM) của Công đồng Vatican II đã đề cập một cách chi tiết hơn về sự cần thiết phải sử dụng truyền thông để "truyền bá và củng cố vương quốc của Thiên Chúa" (IM 2). Giáo hội có nghĩa vụ rao giảng Tin Mừng, bao gồm việc "sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để loan báo Tin Mừng về sự cứu rỗi" (IM 3). Văn kiện kêu gọi mọi người cùng chung tay nỗ lực để đảm bảo rằng các phương tiện truyền thông được sử dụng để phục vụ cho nhiều hình thức tông đồ của Giáo hội (IM 13). Động lực cơ bản cho việc sử dụng báo chí, đài phát thanh, truyền hình, phim ảnh và sân khấu được gắn kết chặt chẽ với sứ mệnh thiết yếu là rao giảng Tin Mừng.

Tiếp nối cách tiếp cận của Inter Mirifica, Communio et Progression (CP) thậm chí còn tiến thêm một bước: "Ngày nay, điều cần thiết là cùng một thông điệp phải được truyền tải bằng các phương tiện truyền thông xã hội hiện có. Thật vậy, sẽ rất khó để cho rằng mệnh lệnh của Chúa Kitô đang được tuân theo nếu chúng ta không tận dụng mọi cơ hội do phương tiện truyền thông hiện đại mang lại để loan báo tin mừng của Ngài đến đông đảo quần chúng" (CP 126). Phương tiện truyền thông hiện đại mang đến những cách thức mới để tiếp cận mọi người bằng thông điệp Tin Mừng, hoặc cho phép các Kitô hữu, ngay cả khi ở xa, tham gia vào các nghi lễ và thờ phượng thiêng liêng cũng như các hoạt động của Giáo hội (CP 128).

Trong Evangelii Nuntiandi (EN), một số điều khoản đã đề cập đến các phương tiện truyền thông xã hội (41-48). Văn kiện này một lần nữa khẳng định tiềm năng to lớn của các phương tiện truyền thông: "Thế kỷ của chúng ta được đặc trưng bởi truyền thông đại chúng hoặc các phương tiện truyền thông xã hội, và lời loan báo đầu tiên, việc huấn giáo hoặc việc đào sâu đức tin tiếp theo sau đều không thể bỏ qua những phương tiện này. Được sử dụng vào việc phục vụ Tin Mừng, những phương tiện này có khả năng mở rộng hầu như vô tận thâu nhận Lời Chúa và có thể đem Tin Mừng đến cho hàng triệu người. Giáo Hội sẽ cảm thấy có lỗi trước Chúa nếu không sử dụng những phương tiện mạnh mẽ này, những phương tiện mà trí khôn con người không ngừng làm cho ngày càng hoàn bị hơn. Nhờ những phương tiện này mà Giáo Hội công bố “trên mái nhà” (Mt 10,27) sứ điệp mà Giáo Hội đang nắm giữ. Giáo Hội xem những phương tiện này như một hình thức hiện đại và hiệu nghiệm của tòa giảng. Nhờ chúng mà Giáo Hội nói được với đám đông (EN 45).

EN tiếp tục chỉ ra một nghịch lý rõ ràng cần được quan tâm nghiêm túc từ phía tất cả những người liên quan đến hoạt động mục vụ liên quan đến truyền thông đại chúng. Cụ thể, trong việc tìm cách sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để truyền giáo, Giáo hội nhất thiết phải tiếp cận số đông, nhưng đồng thời cũng phải làm sao để chạm đến từng cá nhân như thể người đó là người duy nhất được trò chuyện. Việc rao giảng tập thể thông qua truyền thông đại chúng phải được đi kèm với nỗ lực truyền giáo trực tiếp giữa người với người.

Năm 1992, Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội đã xuất bản một chỉ thị mục vụ mang tên Aetatis Novae (AN), đánh dấu kỷ niệm 20 năm ngày ra đời Communio et Progressio. Văn kiện này nhấn mạnh vai trò thiết yếu của truyền thông trong việc truyền giáo và dạy giáo lý. “Các phương tiện truyền thông xã hội có thể và rất nên được coi là những công cụ giúp Giáo Hội thực hiện chương trình tái Phúc Âm hoá và tân Phúc Âm hoá trong thế giới hôm nay. Vì đã chứng minh được nguyên tắc cổ xưa “xem, xét, làm” là hữu hiệu, cũng cần lưu ý đặc biệt tới khía cạnh thính thị của các phương tiện truyền thông khi tổ chức việc Phúc Âm hoá. Tuy nhiên, một điều cũng quan trọng không kém là khi tiếp cận với các phương tiện truyền thông và nền văn hoá mà các phương tiện ấy đã tốn nhiều công sức để hình thành nên, Giáo Hội cần phải luôn luôn nhớ rằng: “Không phải chỉ dùng các phương tiện ấy để phổ biến thông điệp Kitô giáo và giáo huấn đúng đắn của Giáo Hội là đủ, mà còn phải đưa thông điệp ấy ăn sâu vào “nền văn hoá mới” do các phương tiện hiện đại ấy tạo ra… với những ngôn ngữ mới, kỹ thuật mới và cả một tâm lý mới”. Công cuộc Phúc Âm hoá hiện nay phải xuất phát từ sự có mặt tích cực và đầy thiện cảm của Giáo Hội ngay trong thế giới truyền thông. (AN 11).

Trong nhiều dịp, Đức Gioan Phaolô II đã bày tỏ sự đánh giá cao và quý trọng của mình đối với truyền thông đại chúng, coi đó như một công cụ mạnh mẽ để truyền giáo. Ngài khuyên nhủ: "Việc truyền giáo phải được thực hiện thông qua việc sử dụng thành thạo và chuyên nghiệp đài phát thanh, truyền hình và các phương tiện nghe nhìn. Và việc truyền giáo nhất thiết phải gắn liền với sự phát triển toàn diện của tất cả mọi người nam và nữ trên thế giới" (Đức Gioan Phaolô II, 1978).

Giáo hội tham gia mạnh mẽ vào lĩnh vực truyền thông thông qua việc vận hành các đài phát thanh, truyền hình, sản xuất và phân phối phim, bài hát và kịch, xuất bản sách, tạp chí và ấn phẩm định kỳ.

Kết hợp tất cả các nguồn lực và nỗ lực đang được thực hiện để phổ biến thông điệp Kitô giáo trên toàn cầu, truyền thông của Giáo hội có thể là dự án truyền thông lớn nhất trên thế giới hiện nay và trong bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử Kitô giáo (Traber 1983).

Giáo Hội Điện Tử

Giáo hội Công giáo và các giáo hội liên kết với Hội đồng Giáo hội Thế giới (WCC) đã có thái độ phê phán, cân bằng và ôn hòa hơn trong việc sử dụng truyền thông để truyền giáo so với nhiều nhóm cực đoan sử dụng truyền thông để truyền bá phúc âm. Ben Armstrong đã đặt ra thuật ngữ "Giáo hội Điện tử" để mô tả các nhóm tham gia vào chiến lược truyền giáo qua phương tiện truyền thông nhằm mục đích phát triển giáo phái. Peter G. Horsfield trong một nghiên cứu sâu sắc về hiện tượng này ở Hoa Kỳ cho thấy nhiều nhà truyền giáo trên truyền hình đã vươn lên từ khởi điểm khiêm tốn để lãnh đạo các tổ chức trị giá hàng triệu đô la hoạt động giống như các tập đoàn kinh doanh lớn với rất ít nét tương đồng với Kitô giáo hoặc các giá trị của Kitô giáo (Horsfield, 1984).

Một nghiên cứu quan trọng khác về vấn đề này là công trình Strong Religion, Zealous Media (2009) của Pradip Ninan Thomas. Ông khám phá mối quan hệ giữa não trạng chính thống cực đoan Kitô giáo (Christian fundamentalism) và ngành phát thanh truyền hình ở Ấn Độ. Theo ông, truyền thông đóng một vai trò quan trọng trong sứ mệnh chung của những người theo não trạng chính thống cực đoan tôn giáo. Những người theo não trạng này đã "tận dụng triệt để phương tiện truyền thông để tuyên bố sự thật, huy động quần chúng, bảo vệ tín đồ và đặt ra thách thức cho những người không tin" (Thomas, 2009).

Ngày nay, não trạng chính thống cực đoan tôn giáo được truyền tải qua nhiều thể loại khác nhau trên truyền hình— tin tức và phóng sự, âm nhạc và chương trình trò chuyện, cũng như đưa tin về các cuộc thập tự chinh và lễ kỷ niệm. Tại các thành phố như Chennai, nơi các nhóm Kitô giáo hoạt động tích cực trong lĩnh vực truyền thông, ước tính có khoảng 3000 Hội thánh và nhiều trường cao đẳng Kinh thánh đầu tư và đào tạo về truyền giáo qua phương tiện truyền thông. Những Hội thánh này và các giáo phái khác cố gắng tiếp cận quần chúng Ấn Độ thông qua các kênh như God TV, Miracle Net, Daystar, CBN, Grace TV, cũng như các ấn phẩm in ấn và các hội nghị chữa bệnh quy mô lớn như của Benny Hinn. Chỉ riêng đài phát thanh Phúc âm cho Châu Á (GFA) có trụ sở tại Dallas của K. P. Yohanan đã phát sóng bằng 92 ngôn ngữ Ấn Độ, bao gồm nhiều ngôn ngữ của các bộ lạc. God TV tuyên bố rằng kênh này có mặt tại 216 thành phố và thị trấn ở Ấn Độ, với lượng khán giả là 21 triệu người. Đây là những nhà truyền giáo truyền thông thời hiện đại với niềm đam mê giành lại sóng phát thanh cho Chúa Kitô. Phần lớn nội dung có sẵn trên các kênh này có thể được coi là bảo thủ, hẹp hòi và thù địch với dự án hiểu biết và tương lai liên tôn (Thomas, 2008).

Các giáo phái hoặc đảng phái tích cực tiếp thị Kitô giáo đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng. Những tổ chức này, trong mối quan hệ với khán giả của họ, thiếu hai đặc điểm theo truyền thống được coi là thiết yếu để xác định một tổ chức là một Hội thánh; họ không có chiều kích bí tích trong sự thờ phượng của họ và không có ý nghĩa nào về việc khán giả của họ là một cộng đồng cụ thể trong Chúa Kitô. Mặc dù một số nhóm này đã tuyên bố rằng họ không phải là những Hội thánh riêng biệt, mà đang thực hiện một số chức năng bổ sung trong Hội thánh, nhưng trên thực tế, họ đang hành động như những Hội thánh độc lập, tự túc bằng cách thay thế các chức năng và vai trò của Hội thánh bằng những biểu hiện không đầy đủ của chính họ về Phúc âm.

Trên thực tế, trong truyền thông đại chúng, họ đã tìm thấy một “vị cứu tinh” mới để tuyên bố, tạo ra một “tín điều” mới để tuyên xưng và một “đạo đức” mới để thực hành. Họ thậm chí còn có những hình thức thờ phượng mới. Chẳng hạn, Rex Humbard, một trong những nhà truyền giáo trên truyền hình thành công nhất nước Mỹ, tổ chức các buổi lễ hiệp thông được truyền hình hàng năm, trong đó ông mời tất cả các tín đồ đang xem ở nhà tập trung quanh máy thu hình của họ. Ông cũng tự nhận mình là "mục sư truyền hình của bạn" (Horsfield, 1984).

Bên cạnh việc lôi kéo các thành viên khỏi các Hội thánh chính thống, những nhóm này còn chuyển hướng sự chú ý, lòng trung thành và hỗ trợ tài chính của mọi người khỏi Hội thánh địa phương sang các tổ chức tương ứng của họ. Họ cũng củng cố xu hướng xã hội hướng tới việc cá nhân hóa trải nghiệm tôn giáo bằng cách hy sinh các biểu hiện tập thể của nó. Đức tin bị tư nhân hóa và trở nên chủ quan. Thái độ này phản ánh sự xuất hiện của cái mà Carl Dudly gọi là "những tín đồ mới - những người tin mà không thuộc về" (Horsfield, 1984).

Những người truyền bá thông điệp của Giáo hội điện tử thường có xu hướng làm tổn hại đến chiều kích cộng đồng phi ngôn ngữ, dựa trên trải nghiệm và tương tác cá nhân vốn là nền tảng của niềm tin tôn giáo. Họ thay thế điều này bằng việc thụ động quan sát những hình ảnh giả tôn giáo chóng vánh. James Taylor cho rằng nếu Giáo hội sơ khai có được phương tiện truyền thông đại chúng, nhiều người sẽ biết đến Kitô giáo hơn, nhưng ít người hơn sẽ thực sự trở thành Kitô hữu. Ông cũng gợi ý rằng Giáo hội ngày nay đang trong một cuộc cải cách mới, có thể có tầm quan trọng tương đương với cuộc Cải cách thế kỷ XVI, vốn được thúc đẩy phần lớn bởi sự phát triển của ngành in ấn. Taylor nói (Horsfield, 1984): “Chúng ta cũng có thể đối mặt với thực tế là ngày càng có nhiều người lẽ ra đã thuộc về các giáo hội của chúng ta sẽ được tái sinh từ ‘tử cung trải nghiệm’ của truyền hình.”

Hình thức truyền giáo tích cực của giáo hội điện tử cũng được áp dụng cho phát thanh và báo in. Các nhóm tình nguyện viên trẻ được cử đi phân phát tài liệu Kinh Thánh và các ấn phẩm khác tại các ga tàu, ngã tư và quảng trường thành phố. Họ xâm nhập vào không gian riêng tư của mọi người dọc theo bãi biển, sân chơi, chợ và nơi làm việc, thờ cúng. Thậm chí, họ còn phát ầm ĩ các thông điệp qua loa phóng thanh tại các đường phố đông đúc hoặc các thành phố, loan báo những lời cảnh báo về ngày tận thế và kêu gọi mọi người ăn năn và tin vào Chúa Kitô. Theo Florence M. Generoso (1986), người đã nghiên cứu hiện tượng này, những nhà truyền giáo quá nhiệt tình như vậy đã gây tổn hại không thể tính toán được cho Kitô giáo và cho công việc truyền giáo. Khán giả của họ hiểu những điều này như là triệu chứng của sự xâm lược văn hóa và kiêu ngạo về văn hóa và tâm lý.

Truyền thông cho Truyền giáo: một lời phê bình

Nghiên cứu phê bình về sự tham gia của Giáo hội vào truyền thông cho công tác truyền giáo cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa các giáo hội và giáo phái về khái niệm và do đó, cách thức thực hành truyền giáo. Giữa khái niệm truyền giáo toàn diện được hình dung trong EN và loại Kitô giáo "cứu độ tạm thời (band-aid salvation), nói nhanh (fast-talk) và chữa bệnh nhanh (quickcure)" được rao giảng bởi giáo hội điện tử, sự khác biệt không chỉ về mức độ, mà còn về bản chất. Giáo hội Công giáo và các giáo hội chính thống có sự tham gia đáng kể vào truyền thông, ủng hộ một thái độ cẩn trọng và phê phán đối với phương tiện truyền thông đại chúng (Horsfield 1984; Thomas 2008).

Làn sóng lạc quan về điện tử hiện đang suy giảm. Nhiều nhà thực hành truyền thông trong Giáo hội, bản thân họ đã có thái độ thận trọng hơn. Lời phê bình của họ tập trung vào hai lập luận: lập luận đầu tiên dựa trên những cân nhắc triết học và thần học, và lập luận thứ hai dựa trên những tác động cấu trúc của chính ngành truyền thông.

Sturart Jackman (Horsfield, 1984) cho rằng, “Theo kinh nghiệm của tôi, tôn giáo không phải là chất liệu truyền hình hay. Nó quá phức tạp và tốn quá nhiều thời gian. Bị cắt xén thành những khung thời gian mười phút gọn gàng và được dán nhãn 'Lời bạt' hoặc 'Niềm tin cho ngày hôm nay', nó trở nên nhàm chán và nhạt nhẽo, một bát cháo loãng được dâng cho một người đàn ông đang đói.”

T. K. Thomas (1979), một nhà thần học người Ấn Độ, cho rằng Tin Mừng là một thông điệp cá nhân; nó là một con người, trong khi phương tiện truyền thông đại chúng tiếp cận mọi người theo cách tập thể, phi cá nhân. Con người, không phải quần chúng, những cá nhân trong mối quan hệ, không phải những cá nhân cô lập là đơn vị truyền giáo. Tin Mừng không thể được đánh đồng với hàng hóa tiêu dùng; nó không thể được bán rong qua phương tiện truyền thông đại chúng. Quá trình truyền thông này sẽ vi phạm tính toàn vẹn của Tin Mừng. Nó nhất thiết phải được trung gian bởi con người với con người. Harvey Cox (Horsfield, 1984) đã chỉ ra tính chất tuyến tính, không tham gia của phương tiện truyền thông đại chúng khi ông nói, “Bạn không thể truyền đạt thông điệp về tình yêu và sự tương hỗ khi bạn đang nói với ai đó mà không có cơ hội để họ nói lại.”.

Trên thực tế, trong nhiều nền văn hóa nơi giao tiếp thông qua phương tiện truyền thông bằng lời nói, phương tiện truyền thông điện tử là những cỗ máy không lắng nghe mà chỉ nói. Tin Mừng bị giản lược thành thông tin, và thường là thông tin cưỡng chế được che giấu cẩn thận. Việc truyền đạt thông điệp tôn giáo một chiều như vậy cuối cùng sẽ tước đi thông điệp về chiều kích tương tác, hiện sinh của nó.

Vấn đề không chỉ nằm ở nội dung. Bản thân phương tiện thường được coi là không phù hợp để truyền tải thông điệp Tin Mừng. Malcom Muggeridge (Horsfield, 1984), người đã làm việc trong nhiều năm với tư cách là một nhà truyền thông thành công, cũng là một nhà phê bình mạnh mẽ đối với các phương tiện truyền thông. Ông tuyên bố, “Hình ảnh tưởng tượng của màn hình tivi trái ngược hoàn toàn với thực tế của Chúa Kitô, và do đó, hoàn toàn không thể thích nghi với việc loan báo thông điệp Kitô giáo.”

John Bluck (1984), người đã làm việc tại bộ phận truyền thông của WCC hơn một thập kỷ, chỉ ra rằng các tiêu chí của truyền thông hiện tại dựa trên những giá trị rất khác so với những giá trị được thể hiện trong thước đo và mô hình của Chúa Giêsu Kitô. Trong truyền thống báo chí phương Tây cổ điển, những giá trị này bao gồm:

-         Tính thời sự (nó xảy ra gần đây như thế nào?)

-         Sự nổi bật (những người mà nó xảy ra có tầm quan trọng như thế nào?)

-         Sự gần gũi (nó gần nhà đến mức nào?)

-         Xung đột (cuộc chiến lớn và đẫm máu như thế nào?)

-         Kỳ quái (nó xuất hiện kỳ lạ và phi thường như thế nào?)

Truyền hình và đài phát thanh coi thời lượng phát sóng trống và sự im lặng là điều đáng ghét. Việc truyền thông Tin Mừng sau đó đòi hỏi phải thách thức những giá trị này. Nó có nghĩa là nói ít hơn nhiều và nói chậm hơn, lắng nghe mọi lúc. Nó có nghĩa là đảo ngược nhiều giá trị được truyền thông đại chúng đề cao: người cuối cùng trước người đầu tiên, kẻ ngu ngốc trước người khôn ngoan, kẻ yếu trước người mạnh, người nghèo trước người giàu như Tin Mừng chủ trương.

Nhưng phương tiện truyền thông đại chúng, để trích dẫn Harvey Cox (Horsfield, 1984) một lần nữa, “được kiểm soát bởi những người giàu có và quyền lực... chúng được điều hành để kiếm lợi nhuận, để kiểm soát mọi người và bán cho họ mọi thứ. Việc truyền thông như vậy cắt ngang thông điệp của Tin Mừng, khiến nó hoàn toàn không hiệu quả. Ông lập luận rằng “Tin Mừng được trình bày trong một bối cảnh mâu thuẫn với Tin Mừng không còn là Tin Mừng nữa”.

Theo Thomas (2009), một số nhóm Kitô giáo ở Ấn Độ đã gây mất lòng nhiều người dân do thiếu sự tinh tế, tấm lòng hẹp hòi và sự thiếu tôn trọng đối với tín ngưỡng và văn hóa bản địa. Có thể nói rằng, chính những hành động của các nhóm Kitô giáo truyền giáo cực đoan đã góp phần làm suy yếu những nỗ lực phát triển, cứu trợ, đối thoại và công bằng xã hội mà các nhóm Kitô giáo chính thống ở Ấn Độ đang thực hiện.

Vậy nên, việc Giáo hội có nên tham gia truyền thông đại chúng để truyền giáo hay không không phải là một lựa chọn một mất một còn. Thay vào đó, Giáo hội cần phải nhìn nhận thách thức này một cách nghiêm túc và có chiều sâu hơn. Mỗi phương tiện truyền thông cần được xem xét kỹ lưỡng, tùy theo từng trường hợp cụ thể. Ecclesia Asia (EA) đã nhấn mạnh vai trò của truyền thông trong sứ mệnh của Giáo hội: “Sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tác động của truyền thông đại chúng. Bởi vì truyền thông đại chúng ngày càng có sức ảnh hưởng, ngay cả ở những vùng sâu vùng xa của châu Á, nên chúng có thể hỗ trợ rất nhiều trong việc loan báo Tin Mừng đến mọi ngóc ngách của lục địa” (EA 48). Tuy nhiên, trích dẫn Redemptoris Missio, tài liệu này cũng cảnh báo về việc tiếp cận truyền thông một cách đơn thuần là công cụ hay thực dụng: Việc sử dụng truyền thông chỉ để truyền bá thông điệp Kitô giáo và giáo huấn đích thực của Giáo hội là chưa đủ. Điều cần thiết là phải lồng thông điệp đó vào “nền văn hóa mới” được tạo ra bởi truyền thông hiện đại” (EA 48).

Các giáo hội chính thống cần phải tách mình khỏi các nhóm theo chủ nghĩa cực đoan. Họ cũng cần phải lựa chọn sáng suốt và đánh giá cẩn thận nội dung chương trình, đầu tư nguồn lực và nhân sự trong mục vụ truyền thông. Điều mà Giáo hội không thể làm là tin rằng truyền thông có thể gánh vác phần lớn trách nhiệm thực hiện sứ mệnh truyền giáo mà Chúa Kitô đã giao phó. Ngày càng có nhiều sự vỡ mộng và chỉ trích đối với các phương tiện truyền thông chính thống từ phía các giáo hội. Điều này thể hiện rõ ràng trong việc Giáo hội ngày càng sử dụng các phương tiện truyền thông thay thế. Không phủ nhận vai trò của các phương tiện truyền thông xã hội khác nhau trong sứ mệnh của Giáo hội, chúng ta cần hiểu vai trò bổ trợ của chúng. Truyền thông có thể đóng một vai trò bổ trợ và hỗ trợ trong nhiệm vụ truyền giáo toàn diện như được hình dung bởi Evangelii Nuntiandi.

 

Tài liệu tham khảo

1.     Bluck, John (1984). Beyond Technology: Contexts for Communication, Geneva: WCC Risk Series.

2.     Generoso Florenz M. (1986). An Appeal to the Church: The Mission of the Church in Asia, Anand, Gujarat Sahitya Prakash.

3.     Horsfield, Peter G. (1984). Religious Television, The American Experience, New York, Longman.

4.     John, Paul II (1978). “Use of Radio and Television in the Cause of Evangelisation”, address on the occasion of the 50th anniversary of UNDA foundation, October 25, 1978, in L’Osservatore, 9 November, 1978. See also CT n. 46. Traber (1986) in Foreword to Lee Philip (ed.). Communication For Al, Indore, Satprakashan.

5.     Thomas, Pradeep N. (2009). Strong Religion, Zealous Media, New Delhi, Sage.

6.     Thomas, T. K. (1979). “Communication and Christian Mission in India”, in National Christian Mission Review, 99/1,1979,15-28.


Chia sẻ