ISSN xxxx-xxxx (Online)
Top banner
Thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh (03/09) - Thánh Tê-rê-sa Can-cút-ta (05/09) - SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MA-RI-A (08/09) - Thánh Phê-rô Cơ-la-ve, linh mục (09/09) - Danh thánh Đức Ma-ri-a (12/09) - Thánh Gio-an Kim Khẩu, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh (13/09) - SUY TÔN THÁNH GIÁ (14/09) - Đức Mẹ sầu bi (15/09) - Thánh Co-nê-li-ô, giáo hoàng và thánh Síp-ri-a-nô, giám mục, tử đạo (16/09) - Thánh Rô-be-tô Be-la-mi-nô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh (17/09) - Thánh Gia-nu-a-ri-ô, giám mục, tử đạo (19/09) - Thánh An-rê Kim, Phao-lô Chung và các bạn, tử đạo (20/09) - THÁNH MÁT-THÊU, TÔNG ĐỒ, TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG (21/09) - Thánh Pi-ô Pi-ết-ren-si-na, linh mục (23/09) - TẾT TRUNG THU (25/09) - Thánh Cót-ma và thánh Đa-mi-a-nô, tử đạo (26/09) - Thánh Vinh-sơn Phao-lô, linh mục (27/09) - Thánh Lô-ren-xô Ru-y và các bạn, tử đạo (28/09) - Thánh Ven-xét-lao, tử đạo (28/09) - CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MI-CA-EN, GÁP-RI-EN, RA-PHA-EN (29/09) - Thánh Giê-rô-ni-mô, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh (30/09) - Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, trinh nữ, tiến sĩ Hội thánh (01/10) - Các thiên thần hộ thủ (02/10) - Kính trọng thể lễ Đức Mẹ Mân Côi (07/10)
Nền tảng Suy tư Thư viện số Lớp học Tin tức Lịch Sự kiện Tài liệu Media
Ngôn ngữ

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO MẠNH VÀ NHÂN HỌC THẦN HỌC: MỘT VẤN ĐỀ VÀ HAI HƯỚNG GIẢI QUYẾT

COMMUNICATION-THEOLOGY
2026-07-16 16:26 UTC+7 200

TRÍ TUỆ NHÂN TẠO MẠNH VÀ NHÂN HỌC THẦN HỌC: MỘT VẤN ĐỀ VÀ HAI HƯỚNG GIẢI QUYẾT

---

Tác giả: Marius Dorobantu

Nguồn: “Strong Artificial Intelligence and Theological Anthropology: One Problem, Two Solutions,” trong Humanism and Its Discontents: The Rise of Transhumanism and Posthumanism, Paul Jorion chủ biên.

Chuyển ngữ: Tu sĩ Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Dũng, OFM

---

Một khảo sát về các tự sự của chủ nghĩa xuyên nhân văn (transhumanist) liên quan đến tương lai nhân loại cho thấy rằng, bên cạnh việc tăng cường năng lực con người, trí tuệ nhân tạo, gọi tắt là AI, là một trong những biến số quan trọng nhất. AI có thể tiến xa đến đâu vẫn còn là một ẩn số lớn. Các quan điểm đương đại về vấn đề này rất đa dạng, trải từ thái độ hoài nghi thận trọng đến niềm lạc quan gần như không giới hạn. Tuy nhiên, những phát triển và thành tựu gần đây đã một lần nữa làm sống lại khả năng AI có thể đạt tới trình độ ngang tầm con người trong một tương lai không quá xa. Đây là một kịch bản mang tính triệt để, vì nó có thể thách thức những nguyên tắc nền tảng nhất của xã hội chúng ta, cũng như cách chúng ta hiểu về thế giới.

Trong chương này, kịch bản AI ngang tầm con người được tiếp cận từ một viễn tượng thần học. Tác giả thực hiện điều đó bằng cách khảo sát những câu hỏi mà kịch bản này đặt ra cho cách hiểu của chúng ta về con người và về nét đặc thù của con người. Về mặt thần học, những vấn đề ấy được diễn tả qua khái niệm con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, tiếng Latinh là imago Dei.

Ngay từ khi lĩnh vực này ra đời vào thập niên 1950, với hội thảo Dartmouth và với chính việc John McCarthy đặt ra thuật ngữ “trí tuệ nhân tạo”, AI đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm. Các kỳ vọng dành cho AI từng dao động từ thái độ lạc quan phi thực tế, chẳng hạn có người tiên phong trong lĩnh vực này được cho là đã tin rằng vấn đề thị giác máy tính có thể được giải quyết chỉ trong một mùa hè,1 cho đến bầu khí bi quan sâu sắc của nhiều “mùa đông AI”, khi trí tuệ nhân tạo đích thực dường như có lúc trở nên mãi mãi ngoài tầm với.

Ngày nay, dường như chúng ta lại đang ở giữa một “mùa hè AI” mới. Từ đầu thế kỷ XXI, những tiến bộ trong công nghệ phần cứng đã tạo ra các siêu máy tính với năng lực chưa từng có. Chính các siêu máy tính này đã giúp các thuật toán học máy, vốn dựa trên những mạng nơ-ron nhân tạo sâu, có thể vận hành hiệu quả. Nguyên tắc của các thuật toán ấy thật ra đã được hình thành từ thập niên 1980, nhưng khi đó chúng vẫn thiếu nền tảng phần cứng đủ mạnh để phát huy tác dụng.

Một số ứng dụng ấn tượng nhất của AI hiện nay nằm trong các lĩnh vực như chơi trò chơi, nhận diện hình ảnh và giọng nói, dịch thuật ngôn ngữ hoặc điều hướng xe hơi. Tuy nhiên, dù rất ấn tượng, tất cả những ứng dụng ấy vẫn thuộc loại AI hẹp, còn gọi là “AI yếu”. Chúng có thể thực hiện một loại nhiệm vụ nhất định, đôi khi thậm chí vượt trội con người, nhưng lại không thể học và thực hiện một nhiệm vụ hoàn toàn khác.

Trái lại, AI ngang tầm con người, đôi khi được gọi là “AI mạnh”, sẽ có mức độ tổng quát hóa cao, tương tự trí tuệ con người. Nó có thể áp dụng tri thức thu nhận trong một lĩnh vực vào một lĩnh vực hoàn toàn khác. Người ta cho rằng, nếu công nghệ tiếp tục tiến bộ đủ xa, AI mạnh cuối cùng có thể làm chủ hành vi con người một cách hoàn hảo, đến mức hầu như không thể phân biệt với chúng ta xét theo những gì nó có thể thực hiện.

Thật vậy, phép thử Turing nổi tiếng được xây dựng trên chính nguyên tắc này: khi một chương trình có thể đánh lừa các thẩm định viên khiến họ ttin rằng mình đang trò chuyện với một con người, chương trình ấy sẽ được xem là AI đích thực.2

Hiện có nhiều tranh luận xoay quanh việc liệu điều đó có đồng nghĩa với việc AI mạnh sẽ có ý thức hoặc có tâm trí hay không; liệu nó có phải là một ngôi vị hay không; và nếu có, đâu là những hệ quả triết học, đạo đức và pháp lý gắn liền với khái niệm nhân vị tính. Tuy nhiên, đó không phải là những câu hỏi được chương này trực tiếp bàn đến. Thay vào đó, có lẽ sẽ hữu ích hơn nếu chuyển hướng cuộc thảo luận về chính chúng ta, những con người, và đặt câu hỏi: dưới nhãn quan thần học, một kịch bản như thế có ý nghĩa gì đối với cách chúng ta hiểu về bản tính con người và về nét đặc thù của con người?

Sự xuất hiện khả dĩ của AI mạnh có thể mở ra trước vũ trụ những dạng thức trí tuệ hoàn toàn mới. Các dạng thức ấy có thể trải dài từ AI ngang tầm con người đến AI vượt tầm con người, nghĩa là trí tuệ có cùng những năng lực như trí tuệ con người nhưng được tăng cường đến tốc độ và hiệu suất, rồi xa hơn nữa là siêu trí tuệ nhân tạo, một dạng trí tuệ với những khả năng vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta và hoạt động ở những cấp độ không thể hình dung.3

Hiện vẫn chưa rõ AI mạnh có thể xuất hiện hay không, và nếu có thì khi nào. Tuy nhiên, nhiều người tham gia nghiên cứu và phát triển AI cho rằng điều đó có khả năng xảy ra trong vài thập niên tới. Một cuộc khảo sát do Müller và Bostrom thực hiện nơi các chuyên gia AI cho thấy xác suất trung vị là 50% rằng AI ngang tầm con người sẽ xuất hiện trước năm 2040.4

Xét về mặt thần học, câu hỏi quan trọng nhất mà kịch bản này đặt ra liên quan đến nét đặc thù và vị thế đặc biệt của con người, điều mà mọi nền nhân học thần học Kitô giáo đều khẳng định. Vị thế ấy được đặt nền trên niềm tin rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Niềm tin này được khẳng định minh nhiên ngay từ đầu sách Sáng thế và đã được khai triển xuyên suốt lịch sử thần học.

Tuy nhiên, nếu AI có thể đạt được tất cả những đặc tính từng được xem là riêng biệt của con người, thậm chí vượt qua trí tuệ con người, thì khái niệm imago Dei, và có lẽ cả toàn bộ nhân học thần học, dường như bị đặt trước một thách thức nghiêm trọng.

Vấn đề cần được khảo sát tiếp theo là liệu thần học Kitô giáo có thể đối diện và diễn giải một kịch bản triệt để như thế hay không. Nói cách khác, liệu thần học có thể tìm thấy nơi chính mình những nguồn lực nội tại để giải thích một cách mạch lạc sự phát triển này mà vẫn duy trì các khẳng định nền tảng của mình hay không?

Trong mọi hình thức khác nhau, thần học Kitô giáo luôn khẳng định con người có một vị trí đặc biệt trong trật tự thụ tạo. Sách Sáng thế công bố rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1, 27), và chính điều này phân biệt con người với mọi thụ tạo khác. Tuy nhiên, xác định chính xác thế nào là imago Dei chưa bao giờ là một nhiệm vụ dễ dàng. Từ thời các Giáo phụ cho đến hôm nay, các nhà thần học vẫn không ngừng vật lộn với câu hỏi ấy.

Dù vậy, trong phần lớn lịch sử, người ta vẫn tương đối dễ nhận ra một khoảng cách lớn giữa con người và các loài khác. Con người được xem là hữu thể duy nhất có lý tính và ý thức về bản thân, có khả năng sử dụng ngôn ngữ phức tạp, có văn hóa, công nghệ và tình yêu. Tuy nhiên, sự hội tụ của các khoa học hiện nay đang dần thu hẹp khoảng cách ấy. Sau đây là một vài ví dụ về những thách thức mà khoa học hiện đại đặt ra cho ý niệm imago Dei.

Trước hết, xét từ bình diện sinh học, con người nằm trong sự liên tục của tiến trình tiến hóa cùng với mọi dạng sống trên trái đất. Chúng ta chia sẻ phần lớn DNA của mình, khoảng 99%, với những họ hàng tiến hóa gần gũi là tinh tinh.5 Vì thế, từ góc nhìn này, không có một đứt đoạn hữu thể học nào trong chuỗi tiến hóa.

Đồng thời, cũng rất khó, xét từ bình diện khoa học tiến hóa, để xác định một thời điểm đơn lẻ trong đó con người được ban một linh hồn hoặc một năng lực nhận thức đặc thù.6 Về mặt thần học, câu hỏi đặt ra là: bản tính con người khác với bản tính của các hữu thể phi nhân theo nghĩa nào, và nhờ đó giống với bản tính Thiên Chúa ra sao?7

Thứ hai, xét về hành vi, con người dường như giống các động vật phi nhân hơn nhiều so với điều trước đây người ta từng nghĩ. Cảm xúc,8 và thậm chí cả luân lý,9xem ra không còn là những thực tại chỉ giới hạn nơi con người. Trái lại, chúng cũng hiện diện nơi ít nhất một số loài động vật. Hơn nữa, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy một số loài động vật cũng có ý thức về bản thân ở những mức độ khác nhau.10

Thứ ba, một thách thức khác đến từ cổ nhân học. Các loài người cổ không thuộc Homo sapiens, chẳng hạn người Neanderthal hoặc Denisovan, dường như có kích thước não tương tự chúng ta và sở hữu hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, những đặc tính nhận thức từng được xem là riêng biệt của Homo sapiens.11 Vì thế, cùng với Gregory Peterson, chúng ta không thể không đặt câu hỏi then chốt: liệu họ cũng được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa hay không?12

Cuối cùng, khoa học thần kinh và tâm lý học tiến hóa cho rằng chúng đang đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc giải thích cảm xúc, thậm chí cả ý thức. Từ phía khoa học, ngày càng có nhiều áp lực buộc chúng ta phải thừa nhận rằng một lối hiểu duy vật có thể giải thích tất cả những gì có thể quan sát và đo lường nơi con người.

Nhận định này không hàm ý rằng thực tại vật chất là tất cả những gì hiện hữu. Nó chỉ có nghĩa là, xét theo phương pháp khoa học, không còn cần thiết phải giả định sự hiện hữu của linh hồn hoặc tính huyền nhiệm của ý thức con người. Theo lối nhìn duy vật ấy, con người dường như chỉ là những thuật toán xử lý thông tin cực kỳ phức tạp.13

Vì thế, nhân học thần học đang bị chất vấn từ mọi phía. Một số người vẫn hy vọng rằng ý thức hoặc tự do ý chí sẽ không bao giờ được giải thích trọn vẹn. Theo tác giả, đây chỉ là một dạng khác của “thần học lấp chỗ trống”, tức một lối suy tư trong đó thần học tìm chỗ ẩn náu nơi những gì khoa học chưa thể giải thích đầy đủ.

Xét đến tất cả những điều trên, sự xuất hiện của AI mạnh không nhất thiết đặt ra những câu hỏi hoàn toàn mới. Tuy nhiên, nó sẽ làm cho các câu hỏi hiện có trở nên cấp bách hơn, khi buộc nhân học phải đối diện với một thực tại rõ ràng và khắc nghiệt hơn nhiều.

Trí tuệ cao hơn không nhất thiết kéo theo ý thức luân lý và tự do ý chí. Chúng ta có thể tạo ra những tác thể nhân tạo cực kỳ thông minh nhưng vẫn thiếu ý hướng tính và tâm trí. Thực tế, đây dường như là hướng phát triển của AI cho đến nay. Tuy nhiên, đó chỉ là câu trả lời dễ dàng, bởi nó bảo toàn tính đặc thù của con người bằng cách đặt tính đặc thù ấy vào bất cứ điều gì máy móc hiện chưa sở hữu.

Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu AI mạnh có thể đạt được lương tâm, ý chí hoặc bất cứ đặc tính nào khác thường được xem là thành phần của nhân vị tính?Giả thuyết này có thể không quá xa vời. Xét cho cùng, hiện nay chúng ta chỉ có một trường hợp dữ liệu duy nhất để khảo sát mối tương quan giữa trí tuệ cao và ý thức, đó là Homo sapiens. Trong trường hợp của con người, trí tuệ phát triển cao quả thật đi kèm với tất cả những đặc tính vừa nêu. Nếu ý thức và nhân vị tính đã xuất hiện cùng với trí tuệ cao nơi con người, tại sao điều tương tự lại không thể xảy ra trong quá trình tiến hóa của các máy móc thông minh?

Nếu điều ấy xảy ra, câu hỏi sẽ trở thành: nó có ý nghĩa gì đối với cách chúng ta hiểu về bản tính con người và về nét đặc thù của con người?

Những hệ quả đối với thần học Kitô giáo là rất lớn. Ý niệm về tính đặc thù của con người và về imago Dei nằm ở trung tâm nhân học thần học, đồng thời liên hệ mật thiết với hầu như mọi lãnh vực khác của thần học. Chúng không chỉ gắn với thần học về nguồn gốc, mà còn liên hệ đến Kitô học và cánh chung học. Thật vậy, khó có thể tìm thấy một ngành thần học nào hoàn toàn không liên quan đến ý niệm hình ảnh Thiên Chúa.

Vậy thần học có thể tìm được con đường để đón nhận và giải thích những hệ quả của kịch bản AI ngang tầm con người hay không? Hay toàn bộ cấu trúc thần học sẽ sụp đổ?

Do đó, có thể diễn đạt lại vấn đề như sau: liệu chúng ta còn có thể nói về tính đặc thù của con người hay không, nếu máy móc đạt được chính những phẩm tính mà từ lâu chúng ta vẫn xem là dấu chỉ của imago Dei nơi con người? Sau đây, tác giả khảo sát hai hướng giải quyết cho vấn đề này: một hướng triệt để hơn và một hướng ôn hòa hơn.

Giải pháp triệt để: giảm bớt sự nhấn mạnh vào khái niệm imago Dei

Một giải pháp khả dĩ là giảm bớt vai trò trung tâm của khái niệm imago Dei trong nhân học thần học. Đề xuất này có thể tìm được một số hỗ trợ đáng kể từ khoa chú giải Kinh Thánh.

Trước hết, trong Cựu Ước, hình ảnh Thiên Chúa chỉ xuất hiện vài lần, và tất cả đều nằm trong sách Sáng thế. Vì thế, có thể đặt một câu hỏi chính đáng: phải chăng thần học của chúng ta đã khai triển quá nhiều từ khái niệm này? David Fergusson cho rằng chính vị trí của nó ở phần đầu Kinh Thánh Do Thái đã khiến các nhà thần học Kitô giáo dành cho nó một sự chú ý không tương xứng.14

Hơn nữa, cũng có một lập luận chú giải khá vững chắc cho rằng bản văn này có thể đã không thuộc về phần mở đầu Kinh Thánh ngay từ ban đầu. Graeme Auld lập luận rằng Sáng thế 1 là một lời tựa được thêm vào sau cho một tác phẩm vốn trước đó khởi đầu ở Sáng thế 5,1.15 Nếu đúng như vậy, quan điểm cho rằng khái niệm imago Dei bị nhấn mạnh quá mức do vị trí của nó lại càng có thêm cơ sở.

Thứ hai, ngay cả khi sự hiện diện của imago Dei ở phần đầu Kinh Thánh là chính đáng, thì việc dùng khái niệm này như nguồn chính yếu cho nhân học thần học vẫn có thể là điều cần xem xét lại. Joshua Farris chỉ ra rằng bản chất của hình ảnh ấy chỉ là yếu tố phụ so với các giáo huấn trực tiếp của bản văn.16

Alistair McFadyen còn nhấn mạnh hơn khi cho rằng cách tiếp cận xem Sáng thế 1–3 như một “kho chứa các câu trả lời cho vấn đề nhân học” ngay từ đầu đã là một hướng đi sai lạc.17 Vì trình thuật Sáng thế chủ yếu quan tâm đến Thiên Chúa và sự hiện diện của Người, chứ không nhằm trực tiếp xây dựng một học thuyết về con người, nên cần thận trọng khi sử dụng trình thuật này như nền tảng cho nhân học.

Từ các lập luận chú giải trên, có thể rút ra một kết luận ngắn gọn: trong nhân học thần học, khái niệm imago Dei có lẽ đã được nhấn mạnh nhiều hơn mức mà nền tảng Kinh Thánh tương đối khiêm tốn của nó cho phép.

Những lợi điểm của giải pháp được gọi là triệt để này khá rõ ràng. Nếu đưa imago Dei ra khỏi vị trí trung tâm của nhân học thần học, thần học Kitô giáo có thể có nhiều không gian hơn để đối diện không chỉ với các kịch bản về AI mạnh, kể cả khả năng có sự sống ngoài Trái đất, mà còn với những thách thức đến từ khoa học tiến hóa đã nêu ở trên. Điều đó có nghĩa là con người không nhất thiết phải khác biệt theo một nghĩa mạnh; và xét về mặt thần học, điều ấy không nhất thiết là một vấn đề.

Hơn nữa, khi được giải phóng khỏi gánh nặng phải chứng minh tính độc nhất của mình, con người có thể suy nghĩ cách liên đới hơn với phần còn lại của công trình tạo dựng, đồng thời hình dung vận mệnh của mình một cách sáng tạo hơn.

Tuy nhiên, đây sẽ là một bước chuyển rất lớn đối với thần học Kitô giáo, với những hệ quả sâu rộng cho hầu hết các ngành thần học, vốn khi ấy có thể phải được tái cấu trúc gần như từ đầu. Imago Dei đã giữ một vị trí trung tâm đến mức dường như rất khó hình dung một nhân học thần học thích đáng mà không có nó.

Bên cạnh đó, đề xuất này dễ bị phê bình là đã từ bỏ quá dễ dàng một điều quá quan trọng. Một khi đi theo lộ trình ấy, thần học có nguy cơ nhượng bộ quá nhiều, đến mức đánh mất căn tính riêng và bị hòa tan trong bối cảnh hậu hiện đại.

Giải pháp ôn hòa: chấp nhận một cách diễn giải phi-hữu thể học

Một phân tích cẩn trọng hơn về cuộc đối thoại giữa thần học và khoa học xoay quanh imago Dei cho thấy rằng vấn đề chính không nằm ở bản thân khái niệm này, nhưng ở cách diễn giải hữu thể học về nó. Theo cách diễn giải này, hình ảnh Thiên Chúa là một phẩm chất nào đó, hoặc một tập hợp các năng lực nội tại nơi con người.

Một trong những khó khăn của cách hiểu ấy là khoa học đang ngày càng tiến gần hơn đến việc giải thích những điều lâu nay được xem là mầu nhiệm của sự sống, lương tâm và cảm xúc, bằng cách hiểu chúng như những dạng thuật toán xử lý thông tin. Một khó khăn khác là cách diễn giải hữu thể học có khuynh hướng xem một số con người như phản ánh bản tính Thiên Chúa cách trọn vẹn hoặc mẫu mực hơn những người khác; về mặt đạo đức, đây là một lập trường sai lạc.18

Chỉ cần nghĩ đến những người bị khuyết tật nhận thức nghiêm trọng, chúng ta đã có thể đặt ra một câu hỏi khó khăn nhưng chính đáng: chẳng lẽ họ không ở trong hình ảnh Thiên Chúa chỉ vì họ không thông minh hoặc không có khả năng đưa ra quyết định hay sao?

Bên cạnh cách diễn giải hữu thể học, các sách giáo khoa về nhân học thần học19 cũng thường nói đến hai phương án lớn khác: cách diễn giải chức năng cách diễn giải tương quan.

1. Cách diễn giải chức năng Theo cách diễn giải chức năng, imago Dei hệ tại ở việc con người được Thiên Chúa tuyển chọn để đại diện cho Người trong công trình tạo dựng, qua việc thi hành quyền quản trị và trách nhiệm chăm sóc thiên nhiên. Thiên Chúa đặt con người làm người quản lý thế giới thụ tạo.

Quan điểm này được hỗ trợ bởi khoa chú giải Kinh Thánh theo phương pháp lịch sử-phê bình. Trong bối cảnh Cận Đông cổ đại, nhà vua được xem là hình ảnh của thần linh, nghĩa là vị đại diện được thần linh chỉ định và có quyền hành động nhân danh thần linh ấy.20

2. Cách diễn giải tương quan Cách diễn giải tương quan đặt hình ảnh Thiên Chúa nơi các mối tương quan mà con người thiết lập và duy trì với Thiên Chúa cũng như với nhau. Karl Barth là một trong những người tiêu biểu cho cách hiểu này. Theo ông, việc con người được tạo dựng trong tương quan, với Thiên Chúa và với nhau, cấu thành yếu tính của hình ảnh Thiên Chúa, vì nó phản chiếu chính bản tính của Thiên Chúa Ba Ngôi như là tương quan.21 Như vậy, hình ảnh ấy nằm nơi chính mối tương quan, chứ không phải nơi khả năng thiết lập tương quan của con người.22 Hai cách diễn giải này, dù cũng có thể bị phê bình ở một số điểm, xem ra được trang bị tốt hơn để trả lời những câu hỏi đang được đặt ra trong cuộc đối thoại hiện nay giữa nhân học thần học và khoa học tiến hóa. Tuy nhiên, kịch bản AI mạnh lại là một thách thức khác hẳn; và có thể lập luận rằng cả hai cách diễn giải này đều không cung cấp được một trình bày thật sự thỏa đáng về tính đặc thù của con người trong trường hợp ấy.

Cách diễn giải chức năng nói đến việc con người được Thiên Chúa tuyển chọn và trao cho sứ mạng quản trị, chăm sóc công trình tạo dựng. Nhưng tại sao các robot thông minh lại không thể chu toàn cùng một vai trò ấy, thậm chí có thể còn tốt hơn con người?

Khi mô tả cách một siêu trí tuệ nhân tạo có thể vận hành, triết gia Nick Bostrom đã đề cập, trong số nhiều vai trò khác, đến khả năng nó trở thành một chủ thể quản trị thế giới với hiệu quả vượt trội.23 Nếu có quyền tiếp cận các nguồn lực, công cụ và cơ chế quyết định thích hợp, một siêu trí tuệ có thể điều hành thế giới hiệu quả hơn rất nhiều so với con người hiện nay. Nó không chỉ có thể vận hành một nền kinh tế toàn cầu hiệu quả hơn, mà còn có thể giải quyết những vấn đề lớn như nghèo đói, bệnh tật hoặc biến đổi khí hậu. Nó không chỉ đem lại cho con người đời sống tốt hơn, mà còn chăm sóc các loài vật và toàn thể hành tinh.

Theo nghĩa ấy, nó dường như rất phù hợp với định nghĩa chức năng về imago Dei, thậm chí còn phù hợp hơn con người. Viễn cảnh này có thể nghe xa vời và lạc quan ngây thơ, có lẽ đúng là như vậy, nhưng ít nhất trên bình diện nguyên tắc, nó vẫn cần được xem xét.

Mặt khác, cách diễn giải tương quan đặt nền cho tính đặc thù của con người nơi khả năng hiện hữu trong tương quan với Thiên Chúa và với nhau, trong tư cách là đối tác của Thiên Chúa, một “ngươi” mà Thiên Chúa, có khả năng nghe lời Người và đáp lại Người.

Nhưng nếu AI trở thành AI mạnh, thì theo chính định nghĩa, nó sẽ vượt trội con người trong mọi nhiệm vụ trí tuệ, bao gồm đối thoại, tương quan, cũng như trí tuệ cảm xúc và xã hội. Chính phép thử Turing, xét cho cùng, đã mang bản chất tương quan: một cỗ máy phải đánh lừa được con người nhờ những khả năng tương tác của nó.

Câu hỏi liệu những mối tương quan mà AI mạnh có thể thiết lập, kể cả tương quan được giả định với Thiên Chúa, với con người và với các AI khác, có thật sự chân thực hay không, vẫn cần được khảo sát sâu hơn. Tuy nhiên, thoạt nhìn, không có lý do hiển nhiên nào buộc ta phải loại bỏ khả năng ấy.

Vì cả cách diễn giải hữu thể học lẫn những phương án phi-hữu thể học quen thuộc nhất của nó dường như đều không thể dung nạp thỏa đáng kịch bản AI mạnh, nên chúng ta buộc phải đào sâu hơn nữa. Ở đây, tác giả hướng đến một cách diễn giải thường bị xếp vào nhóm “các cách hiểu khác”, đó là cách diễn giải cánh chung học.

Cách diễn giải này khẳng định rằng tương quan lý tưởng của con người với Thiên Chúa không nên được đặt nơi quá khứ địa đàng, cũng không nơi hiện tại, nhưng nơi tương lai cánh chung.

3. Cách diễn giải cánh chung học Một đại diện nổi bật của dòng tư tưởng này là Wolfhart Pannenberg.24 Ông xem hình ảnh Thiên Chúa trong tương quan với tính xuất tâm, hay exocentricity, tức khuynh hướng nội tại khiến con người không khép kín nơi chính mình, nhưng luôn hướng ra khỏi bản thân để mở về thế giới, tha nhân và một vận mệnh chưa hoàn tất.25 Chính tính xuất tâm này thúc đẩy nhân loại tiến về sự trở thành viên mãn của mình như hình ảnh Thiên Chúa, đồng thời hướng đến vận mệnh tương lai là làm no thỏa cơn khát siêu việt trong sự hiệp thông với Thiên Chúa.26 Tính xuất tâm có thể nghe gần với sự tự-siêu-vượt, một khái niệm quen thuộc khác thường được dùng để diễn tả nét đặc thù của con người, như Reinhold Niebuhr đã lập luận.27 Tuy nhiên, theo J. Wentzel Van Huyssteen, tính xuất tâm nơi Pannenberg đi xa hơn nhiều so với ý niệm tự-siêu-vượt của Niebuhr: “Tính xuất tâm không chỉ nói đến sự hướng mở của con người về tha nhân và thế giới, nhưng theo một nghĩa toàn diện hơn, còn bộc lộ một khuynh hướng nằm trong chính bản tính con người. Con người có Weltoffenheit, nghĩa là sự mở ra với thế giới, điều vượt xa sự mở ra của mọi loài vật đối với môi trường sống của chúng.

Như vậy, tính xuất tâm có nghĩa là con người luôn mở ra vượt quá mọi kinh nghiệm và vượt quá mọi hoàn cảnh cụ thể; thật ra, vượt quá chính thế giới. Chúng ta còn mở ra vượt quá cả những kiến tạo văn hóa của chính mình. Khi biến đổi tự nhiên thành văn hóa và không ngừng thay thế các hình thức văn hóa cũ bằng những hình thức mới, chúng ta cũng mở ra vượt quá văn hóa để hướng đến tương lai, và để tìm thấy vận mệnh tối hậu của mình trong tương lai ấy. Sự thao thức này của bản tính con người tạo nên một căn rễ quan trọng cho toàn bộ đời sống tôn giáo.”28

Điều này có nghĩa là trong cuộc tìm kiếm sự viên mãn, con người luôn được thúc đẩy vươn ra ngoài mọi điều mình kinh nghiệm trong thế giới. Imago Dei là nguồn định hướng cho cuộc tìm kiếm vận mệnh ấy, và về mặt thần học, hình ảnh này đã được tỏ lộ nơi ngôi vị Đức Giêsu Kitô.29 Vì thế, imago Dei vừa là ân huệ đã được ban, vừa là vận mệnh tương lai của nhân loại.

Một cách tiếp cận bổ túc cho tính xuất tâm của Pannenberg, cũng thuộc dòng diễn giải cánh chung học, là quan điểm của Ted Peters về imago Dei như cùng đích của tiến hóa.30 Peters cũng thêm vào cách hiểu đúng đắn về imago Dei một tầng kích Kitô học có tính quyết định.

Ông kết hợp các lập luận thần học và khoa học để cho thấy rằng một định nghĩa thích đáng về con người được định hình bởi tương lai nhiều hơn bởi quá khứ.31 Về mặt thần học, bản tính con người không bị cố định ngay từ lúc tạo dựng, nhưng mở ra cho tiến hóa và cho “sự tăng trưởng trong việc nên giống Đức Kitô”. Như ông viết: “Chúng ta sống hiện nay như imago Dei trong mức độ chúng ta sống trong Người, trong mức độ chúng ta tham dự vào thực tại của sự phục sinh cánh chung hướng đến công trình tạo dựng mới.”32

Hơn nữa, Peters dựa vào các lập luận liên quan đến thần minh luận. Tình trạng hiện nay của thế giới, với biết bao đau khổ và cái chết yểu, không thể là phiên bản sau cùng của công trình tạo dựng do một Thiên Chúa tốt lành thực hiện. Ông đồng ý với John Haught rằng tiến hóa vũ trụ và sinh học dẫn đến kết luận rằng vũ trụ của chúng ta, trong một mức độ rất lớn, “vẫn chưa được tạo dựng xong”.33

Cuối cùng, cách diễn giải của Peters về imago Dei vang vọng quan điểm của Pannenberg khi nhấn mạnh đến ơn gọi, hay “lời mời gọi của Thiên Chúa hướng con người về phía trước”.34 Chính lời mời gọi ấy đặt hình ảnh Thiên Chúa ở tương lai chứ không phải ở quá khứ, với Đức Kitô cánh chung là nguồn mạch của nó.

Cách diễn giải cánh chung học xem ra là ứng viên thích hợp hơn nhiều để đáp lại các thách thức do kịch bản AI mạnh đặt ra. Một trong những lợi điểm của nó là không đặt hình ảnh Thiên Chúa nơi một năng lực mà con người sở hữu, như trong cách diễn giải hữu thể học; cũng không đặt nơi một điều gì đó con người có thể thực hiện, như trong các cách diễn giải chức năng và tương quan.

Từ góc nhìn này, chúng ta hoàn toàn có thể hình dung một AI mạnh vượt trội con người trên mọi bình diện, nhưng vẫn thiếu tính xuất tâm và ơn gọi hướng đến sự viên mãn trong Đức Kitô.

Quan trọng hơn nữa, cách diễn giải này đưa ra một đề xuất vừa sâu sắc về mặt thần học, vừa được trình bày chặt chẽ trong tương quan với khoa học. Đặc biệt trong mô hình của Peters, sự thao thức hiện sinh và sức hút hướng về Đức Kitô cánh chung không cần được hiểu như những yếu tố siêu nhiên được thêm vào bản tính con người từ bên ngoài. Chúng là thành phần thuộc chính cấu tạo của chúng ta, được hình thành qua lịch sử tiến hóa đặc thù của loài người, một lịch sử kết hợp độc đáo giữa các yếu tố sinh học và văn hóa.

Trước hết, cách hiểu này có thể tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đối thoại liên ngành giữa thần học và khoa học về nét đặc thù của con người. Kế đến, nếu imago Dei mang chiều kích cánh chung sâu xa và gắn với loại hình tiến hóa sinh học đặc thù của con người, thì các hữu thể nhân tạo rất có thể nằm ngoài phạm vi của nó, trừ khi chúng trải qua một quỹ đạo tiến hóa tương tự, điều gần như không thể xét theo xác suất vũ trụ.

Nói cách khác, rất có thể chúng sẽ không ở trong hình ảnh Thiên Chúa, bất kể mức độ trí tuệ của chúng cao đến đâu.

Tóm lại, việc suy tư ngay từ bây giờ về các kịch bản AI mạnh chắc chắn có ý nghĩa quan trọng đối với thần học. Nó có thể buộc chúng ta phải tái diễn giải truyền thống của mình theo một cách mới mẻ, đồng thời khám phá chân lý của mặc khải thần linh từ những góc nhìn độc đáo.

Nhà thần học Aubrey Moore từng nói một câu nổi tiếng về tương quan giữa thuyết Darwin và Kitô giáo: “Thuyết Darwin đã xuất hiện và, dưới dáng vẻ của một kẻ thù, lại làm công việc của một người bạn.” Điều tương tự cũng có thể đúng đối với trí tuệ nhân tạo mạnh.35

  1. Seymour Papert, "The Summer Vision Project," MIT AI Memos (1959 - 2004), 1966. hdl:1721.1/6125.
    Available at https://dspace.mit.edu/handle/1721.1/6125 (Retrieved June 21st, 2020).

  2. Alan Turing, “Computing Machinery and Intelligence,” Mind 49: 433-460, 1950.

  3. Nick Bostrom, Superintelligence: Paths, Dangers, Strategies, Oxford, UK: Oxford University Press, 2014.

  4. Vincent C. Mü ller and Nick Bostrom, “Future Progress in Artificial Intelligence: A Survey of Expert Opinion,” trong Fundamental Issues of Artificial Intelligence, edited by Vincent C. Mü ller, Berlin, DE: Springer, 553-571.

  5. Robert H. Waterson, Eric S. Lander, and Richard K. Wilson, “Initial Sequence of the Chimpanzee Genome and Comparison with the Human Genome,” Nature 437: 69-87, 2005.

  6. Aku Visala, “Imago Dei, Dualism and Evolution: A Philosophical Defense of the Structural Image of God,” Zygon: Journal of Religion and Science 49 (1): 101-120, 2014, tr. 114.

  7. Colin E. Gunton, “Trinity, Ontology and Anthropology: Towards a Renewal of the Doctrine of the Imago Dei,” in Persons, Divine and Human, biên tập bởi Christoph Schwöbel và Colin E. Gunton, Edinburgh, UK: T&T Clark., 1991, 47-61, tr. 47

  8. Frans de Waal, Mama’s Last Hug: Animal Emotions and What They Tell Us about Ourselves, W.W. Norton & Company, 2019

  9. Frans de Waal, The Bonobo and the Atheist: In Search of Humanism Among the Primates, W.W. Norton & Company, 2013.

  10. Gordon G. Gallup Jr., "Chimpanzees: Self-Recognition," Science. 167 (3914): 86-87, 1970; Diana Reiss. And Lori Marino, “Mirror self-recognition in the bottlenose dolphin: A case of cognitive convergence," Proceedings of the National Academy of Sciences 98 (10): 5937–5942, 2001.

  11. Sverker Johansson, “The thinking Neanderthals: What do we know about Neanderthal cognition?”, WIREs Cognitive Science 5: 613-620, 2014.

  12. Gregory R. Peterson, “Uniqueness, the Image of God, and the Problem of Method: Engaging Van Huyssteen,” Zygon: Journal of Religion and Science 43 (2): 467-474, 2008, tr. 473.

  13. Steven Pinker, The Blank Slate: The Modern Denial of Human Nature, Penguin, 2012.

  14. David Fergusson, “Humans Created According to the Imago Dei: An Alternative Proposal,” Zygon: Journal of Religion and Science 48 (2): 439-453, 2013, tr. 442.

  15. Graeme Auld, “Imago Dei in Genesis: Speaking in the Image of God,” The Expository Times 116: 259-262, 2005.

  16. Joshua R. Farris, “An Immaterial Substance View: Imago Dei in Creation and Redemption,” The Heythrop Journal LVIII: 108-123, 2017, tr. 108.

  17. Alistair McFadyen, “Imaging God: A Theological Answer to the Anthropological Question?” Zygon: Journal of Religion and Science 47 (4): 918-933, 2012, tr. 923.

  18. Fergusson, “Humans Created According to the Imago Dei...,” tr. 443.

  19. Marc Cortez, Theological anthropology: a guide for the perplexed, New York, NY: T&T Clark, 2010, tr. 14-40; Noreen Herzfeld, In Our Image: Artificial Intelligence and the Human Spirit. Minneapolis, MN: Fortress Press, 2002, tr. 10-30.

  20. John H. Walton, “Human Origins and the Bible,” Zygon: Journal of Religion and Science 47 (4): 875-889,
    2012.

  21. Karl Barth, Church Dogmatics Vol. 3, Edinburgh, UK: T&T Clark, 1958, tr. 184-185.

  22. Herzfeld, In Our Image..., tr. 26.

  23. Bostrom, Superintelligence..., tr. 177-193

  24. Wolfhart Pannenberg, Anthropology in Theological Perspective, Philadelphia, PA: T&T Clark, 1985, tr. 43-
    79

  25. LeRon F. Shults, Reforming Theological Anthropology: After the Philosophical Turn in Relationality, Grand
    Rapids, MI: Eerdmans, 2003, tr. 235.

  26. J. Wentzel van Huyssteen, Alone in the World? Human Uniqueness in Science and Theoogy, Göttingen, DE:
    Vandenhoeck & Ruprecht, 2006, tr. 139

  27. Reinhold Niebuhr, The Nature and Destiny of Man: A Christian Interpretation, Louisville, KY: Westminster
    John Knox, 1966, vol. 1, tr. 161-162.

  28. Van Huyssteen, Alone in the World..., tr. 139-140

  29. Sđd., tr. 141

  30. Ted Peters, “The Imago Dei as the End of Evolution,” in Stanley P. Rosenberg, Michael Burdett and Benno
    Van Den Toren (eds.), Finding Ourselves After Darwin, Grand Rapids MI: Baker Academic, 2018, 92-106.

  31. Sđd., tr. 94

  32. Sđd, tr. 95.

  33. John Haught, Deeper than Darwin, Boulder, CO: Westview, 2003, tr. 168.

  34. Peters, “The Imago Dei...,” tr. 96.

  35. Francisco J. Ayala, Darwin’s Gift to Science and Religion, Washington, D.C.: Joseph Henry Press, 2007, tr.159.

Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.

Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.