ISSN xxxx-xxxx (Online)
Top banner
Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, trinh nữ, tiến sĩ Hội thánh (01/10) - Các thiên thần hộ thủ (02/10) - Kính trọng thể lễ Đức Mẹ Mân Côi (07/10)
Ngôn ngữ

Văn hóa và căn tính

COMMUNICATION-THEOLOGY
2025-11-21 08:06 UTC+7 565

VĂN HÓA VÀ CĂN TÍNH:

KHUNG KHÁI NIỆM, TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC THUỘC TÍNH TRUYỀN THÔNG

cultural-identity-1763687108.jpg
Rawpixel/Dollar Photo Club

Mở đầu

Văn hóa có thể hiểu là hệ giá trị, niềm tin, lối tư duy và hành vi được học hỏi và chia sẻ, qua đó làm nên diện mạo riêng của một cộng đồng. Văn hóa không chỉ tạo nên bản sắc tập thể và bảo đảm sự tồn tại, mà còn củng cố cảm thức thuộc về. Song song với đó, căn tính là cách con người định nghĩa chính mình, là khung quy chiếu để một người tự nhận thức bản thân trong tương quan với thế giới và tha nhân. Căn tính được hình thành từ sự gắn kết hữu cơ giữa ngôn ngữ, cấu trúc xã hội, định hướng về giới và các mô thức văn hóa. Bài viết này trình bày mối quan hệ phức hợp giữa văn hóa và căn tính; phân tích khái niệm “căn tính văn hóa”, tiến trình hình thành căn tính qua tương tác truyền thông; giới thiệu Lý thuyết Căn tính văn hóa cùng sự phát triển phương pháp luận; và hệ thống hóa bảy thuộc tính căn tính văn hóa theo Collier và Thomas.

  1. Căn tính văn hóa: Khái niệm và đặc trưng động

Căn tính văn hóa là sự tự định danh và cảm thức thuộc về một cộng đồng biết tự khẳng định mình qua thời gian. Ở các bình diện hành vi, truyền thông, tâm lý và xã hội, căn tính văn hóa biểu lộ mức độ một người “đại diện” cho một nền văn hóa qua các giá trị, ý nghĩa, phong tục và niềm tin dùng để tương quan với thế giới. Căn tính này phản chiếu kinh nghiệm lịch sử chung và những mã văn hóa được chia sẻ, nhờ đó cung cấp cho cộng đồng một khung tham chiếu tương đối ổn định và liên tục. Việc đánh giá ai “thuộc” về một nhóm văn hóa thường bị chi phối bởi diện mạo, nguồn gốc tổ tiên hoặc hành vi cá nhân (cách ăn mặc, lời nói, ngày lễ và nghi thức). Đồng thời, các yếu tố như biến cố lịch sử, điều kiện chính trị, thành phần tham dự, bối cảnh tương tác và diễn ngôn công cộng cũng góp phần định hình căn tính văn hóa.

Quan trọng hơn, căn tính văn hóa có tính động và luôn vận động. Nó bao trùm trọn đời người, biến đổi theo bối cảnh xã hội và không ngừng dịch chuyển trong tương quan với người khác. Vì thế, căn tính văn hóa không phải là một thực thể bất biến, mà là tiến trình kiến tạo và thương thảo ý nghĩa trong dòng tương tác xã hội.

  1. Hình thành căn tính văn hóa: Thương thảo, đồng kiến tạo và củng cố trong truyền thông

Căn tính văn hóa được thương thảo, đồng kiến tạo và củng cố qua giao tiếp xã hội. Nó vừa phản ánh thực tại xã hội, vừa kết tinh lịch sử đời sống và trải nghiệm cá nhân. Tiến trình hình thành căn tính bao gồm việc lựa chọn (và mức độ dấn thân với) những nền văn hóa mà cá nhân đồng nhất, cũng như quyết định tham gia các cộng đồng văn hóa tương ứng. Con người có thể tiếp nhận niềm tin và thực hành của một hay nhiều cộng đồng; thậm chí thành viên của văn hóa chủ lưu có thể tiếp biến các yếu tố của văn hóa thiểu số (như trang phục, âm nhạc). Mỗi người đồng thời thuộc về nhiều nhóm văn hóa và tiểu văn hóa, có khi chồng lấn, có khi không, tạo nên nhiều tầng căn tính hợp thành “căn tính văn hóa” tổng thể.

  1. Lý thuyết Căn tính văn hóa: Từ diễn giải đến phê phán Lý thuyết

Căn tính văn hóa đề xuất mối liên hệ giữa năng lực giao tiếp liên văn hóa và căn tính văn hóa. Lý thuyết này nghiên cứu cách cá nhân sử dụng tiến trình giao tiếp để kiến tạo và thương thảo căn tính nhóm văn hóa cũng như các mối quan hệ trong những bối cảnh cụ thể. Theo đó, văn hóa chỉ là một trong nhiều căn tính được biểu đạt trong tương tác: căn tính văn hóa trở nên hiển rõ qua so sánh xã hội, khi người nói đặt vị thế nhóm mình bên cạnh các nhóm khác. Trong một thông điệp, cá nhân có thể đồng thời mang nhiều căn tính: quốc gia, chủng tộc, sắc tộc, giai tầng, giới tính/giới, chính trị và tôn giáo. Do tính đa căn tính, các tiếng nói trong cùng một nhóm không hoàn toàn đồng dạng về giọng điệu cũng như mức độ được thừa nhận.

Về phương pháp luận, các phiên bản đầu của lý thuyết thiên về lập trường diễn giải: mô tả tiến trình căn tính (hơn là phê phán), nhấn mạnh kiến tạo xã hội và các tường thuật diễn ngôn cá nhân. Gần đây, quan điểm phê phán nổi bật hơn, chú trọng cấu trúc bối cảnh, hệ tư tưởng và trật tự thứ bậc địa vị, qua đó đào sâu các tương quan quyền lực trong kiến tạo căn tính.

  1. Bảy thuộc tính của căn tính văn hóa theo Collier và Thomas

Kết hợp tiêu chí dân tộc về truyền thông với kiến tạo xã hội, Collier và Thomas đề xuất bảy thuộc tính cho thấy cách các thành viên một nhóm truyền đạt căn tính của mình:

4.1. Tự xưng và định danh (avowal và ascription)

Tự xưng là cách một người trình bày, biểu đạt quan điểm về căn tính nhóm của mình; định danh là cách người khác tri nhận và gán nghĩa cho căn tính của người đó (kể cả khuôn mẫu/định kiến). Căn tính được hình thành trong thế căng giữa cái nhìn của ta về chính mình và cái nhìn của người khác về ta. Độ lệch giữa phẩm chất tự xưng và phẩm chất bị gán có thể dẫn tới xung đột; khả năng giải quyết thường phụ thuộc vào vị thế và quyền lực của các bên.

4.2. Phương thức biểu đạt (modes of expression)

Căn tính được biểu đạt qua các biểu tượng cốt lõi (những phát ngôn về niềm tin và thế giới quan của nhóm), tên gọi, nhãn định danh và chuẩn mực (chuẩn hành vi kỳ vọng). Các yếu tố này vừa xác nhận tư cách thành viên, vừa cho thấy căn tính chung. Collier ghi nhận có những tương đồng chuẩn mực giữa các nhóm sắc tộc, đồng thời vẫn tồn tại khác biệt nội nhóm theo giới và loại hình quan hệ.

4.3. Căn tính cá nhân, quan hệ và cộng đoàn (individual, relational, communal)

Căn tính cá nhân là cách mỗi người diễn giải căn tính dựa trên trải nghiệm riêng; căn tính quan hệ là cách con người tương tác (thế nào là hành vi phù hợp); căn tính cộng đoàn là việc sử dụng truyền thông để tạo lập, khẳng định và thương thảo căn tính chung. Hành động, tương tác và tập quán cộng đoàn phản chiếu căn tính nhóm. Nhà nghiên cứu có thể nhận diện căn tính văn hóa qua quan sát sinh hoạt thường nhật, nghi thức và lễ hội.

4.4. Khía cạnh bền vững và biến đổi (enduring và changing)

Căn tính văn hóa vừa có yếu tố bền vững, vừa biến đổi trước tác động của các yếu tố xã hội, chính trị, kinh tế và bối cảnh. Tính liên tục và tính thích nghi đồng hiện trong tiến trình tái định hình căn tính.

4.5. Khía cạnh cảm xúc, nhận thức và hành vi (affective, cognitive, behavioral)

Căn tính gắn với cảm xúc (đầu tư tình cảm vào tư cách thành viên), với sơ đồ nhận thức (cách hiểu và diễn giải thế giới) và với khuôn mẫu hành vi (những thực hành biểu đạt căn tính theo ngữ cảnh).

4.6. Tầng nội dung và tầng quan hệ (content và relationship)

Trong tương tác, thông điệp vừa mang nội dung tường minh, vừa phơi lộ tầng quan hệ: quyền lực, mức độ gần gũi, niềm tin cậy, thái độ. Việc chọn và diễn giải từ ngữ, cùng cách chuyển tải (giọng điệu, nhịp điệu, ngôn ngữ cơ thể), đều phản chiếu khung diễn giải văn hóa.

4.7. Độ nổi bật (salience/prominence)

Độ nổi bật là mức độ căn tính được “đánh thức” và thu hút chú ý trong một tình huống. Nó chịu ảnh hưởng bởi mức độ tương đồng/khác biệt giữa các bên, chủ đề trao đổi, bối cảnh và quan hệ. Độ nổi bật cao thường đi liền với mức đầu tư và dấn thân mạnh vào căn tính ấy.

Kết luận

Văn hóa và căn tính gắn bó trong một tương quan năng động, nơi căn tính được kiến tạo, thương thảo và tái định hình qua tương tác truyền thông. Khái niệm căn tính văn hóa nhấn mạnh tính đa tầng, đa thanh và bối cảnh của bản ngã xã hội; Lý thuyết Căn tính văn hóa cho thấy vai trò trung tâm của giao tiếp trong kiến tạo, so sánh và định vị nhóm; còn bảy thuộc tính của Collier và Thomas cung cấp khung quan sát cụ thể về cách căn tính được biểu đạt. Đối với nghiên cứu và thực hành liên văn hóa, cách tiếp cận này vừa giúp đọc hiểu các cấu trúc ý nghĩa, vừa nhắc nhớ đòi hỏi nhạy cảm bối cảnh, nhận diện quyền lực và khác biệt nội nhóm. Nhờ đó, ta có thể nâng cao năng lực giao tiếp liên văn hóa, thúc đẩy sự thừa nhận lẫn nhau và cộng tác hiệu quả trong xã hội đa nguyên hôm nay.

Nguồn: Cultural Identity Theory


TRUYỀN THÔNG VĂN HÓA

Một số lý thuyết và chủ đề liên quan đến truyền thông văn hóa gồm có:

  1. Lý thuyết hiệu ứng bảng chữ cái.

  2. Lý thuyết thích nghi truyền thông.

  3. Truyền thông xuyên văn hóa.

  4. Lý thuyết vun trồng.

  5. Lý thuyết căn tính văn hóa.

  6. Chủ nghĩa duy vật văn hóa.

  7. Lý thuyết thương lượng thể diện.

  8. Các chiều kích khác biệt văn hóa của Hofstede.

  9. Các cộng đồng tưởng tượng theo Benedict Anderson.

  10. Lý thuyết khoảng cách tri thức.

  11. Lý thuyết lệ thuộc truyền thông.

  12. Lý thuyết phương tiện.

  13. Lý thuyết hiện đại hóa.

  14. Chủ nghĩa hiện đại.

  15. Lý thuyết nhóm câm lặng.

  16. Chủ nghĩa hậu hiện đại.

  17. Lý thuyết phân tầng xã hội cùng các ví dụ.

  18. Lý thuyết văn hóa xã hội.

  19. Lý thuyết vòng xoáy im lặng.

  20. Tìm hiểu quyền bá chủ văn hóa qua các ví dụ.

  21. Chủ nghĩa Victoria.

Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.

Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.