ISSN xxxx-xxxx (Online)
Top banner
Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, trinh nữ, tiến sĩ Hội thánh (01/10) - Các thiên thần hộ thủ (02/10) - Kính trọng thể lễ Đức Mẹ Mân Côi (07/10)
Ngôn ngữ

Lý thuyết nhóm bị làm cho im tiếng

COMMUNICATION-THEOLOGY
2026-08-20 05:06 UTC+7 37
Lý thuyết nhóm bị làm cho im tiếng là một lý thuyết phê bình giúp giải thích vì sao một số nhóm xã hội, đặc biệt là phụ nữ và các cộng đồng bị gạt ra bên lề, không được lắng nghe trong không gian công cộng. Lý thuyết này cho thấy ngôn ngữ, truyền thông và các cấu trúc quyền lực thường do nhóm thống trị định hình, khiến kinh nghiệm của nhóm yếu thế bị che khuất. Bài viết trình bày nguồn gốc, nội dung, ứng dụng và ví dụ của lý thuyết trong truyền thông văn hóa.
tt-nhom-bi-im-tieng-1787177123.png
Source: ctpaep/Adobe Stock

LÝ THUYẾT NHÓM BỊ LÀM CHO IM TIẾNG

Trong các lĩnh vực truyền thông văn hóa, tâm lý học, khoa học hành vi và khoa học xã hội, lý thuyết nhóm bị làm cho im tiếng là một lý thuyết phê bình bàn về một số nhóm người bị đặt vào tình trạng thiếu quyền lực so với các nhóm khác.

Dẫn nhập

Edwin Ardener, nhà nhân học người Anh, là người giới thiệu khái niệm này. Một trong những đóng góp nổi bật của ông trong nhân học là các nghiên cứu về giới. Ông nhận thấy rằng nhiều công trình dân tộc học trong xã hội đã khái quát hóa kết quả nghiên cứu dựa trên dân số nam, rồi tích lũy các kết luận ấy như thể chúng phản ánh toàn bộ xã hội, trong khi thực chất chỉ tiếp nhận một phía.

Tiếng nói của phụ nữ và của các nhóm không được lắng nghe đã bị bỏ qua và bị làm cho im tiếng. Cách nhìn hạn hẹp về xã hội, khi bỏ qua gần một nửa dân số, đã ảnh hưởng đáng kể đến các nghiên cứu. Chính trong bối cảnh đó, lý thuyết nhóm bị làm cho im tiếng đã soi sáng quyền năng và kinh nghiệm của những nhóm bị gạt ra bên lề xã hội.

Lý thuyết nhóm bị làm cho im tiếng

Lý thuyết nhóm bị làm cho im tiếng giải thích nguyên nhân vì sao một số nhóm dân cư, đặc biệt là phụ nữ trong xã hội, rơi vào tình trạng không có tiếng nói. Lý thuyết này duy trì một nhãn quan về giới, trong đó nam giới được xem là tầng lớp thống trị.

Phụ nữ sống trong một hoàn cảnh mà ý kiến của họ, ngay cả khi được nói ra, vẫn thường bị làm cho im lặng, và phần lớn họ buộc phải thích nghi với tình thế. Thái độ và vị thế của nam giới, những người thường được xem là trụ cột kinh tế trong gia đình, được coi là có tính thống trị hơn so với phụ nữ, những người bị nhìn như lệ thuộc vào họ. Truyền thống lâu đời đã tạo nên một sự phân chia quyền lực mới trong xã hội.

Lý thuyết nhóm bị làm cho im tiếng sau đó được Cheris Kramarae, giáo sư chuyên ngành nghiên cứu phụ nữ, tiếp tục phát triển. Bà bảo vệ quan điểm rằng truyền thông và ngôn ngữ xã hội ban đầu được định hình bởi nam giới. Chính vì thế, nam giới có lợi thế hơn phụ nữ trong việc diễn đạt, định nghĩa và kiểm soát ý nghĩa. Khi phát biểu, phụ nữ thường bị xem là kém quyền lực hơn nam giới. Nguyên nhân đằng sau hiện tượng này có thể được giải thích từ bình diện tâm lý xã hội. Các nhu cầu của phụ nữ thường bị diễn giải như mang tính cảm xúc nhiều hơn, khác với nam giới. Vì thế, viễn tượng của phụ nữ được cho là khác với nam giới trong hầu hết các phương diện.

John Berger nói rằng “ngôn ngữ chứa đựng tiềm năng của toàn bộ kinh nghiệm nhân loại”.

Câu nói này mở ra nhiều suy tư. Khi phụ nữ bước vào không gian xã hội, họ thường phải đối diện với nhiều hình thức ngôn ngữ xúc phạm nhất, vì phụ nữ bị xem là có ít quyền lực hơn nam giới. Trong khi đó, nam giới lại tận dụng quyền lực thống trị sẵn có của mình trong không gian xã hội để bảo vệ bản thân khỏi những thứ ngôn ngữ xúc phạm ấy. Trong xã hội chúng ta, phần lớn các ngôn từ xúc phạm thường gắn với nữ tính, trong khi rất ít từ ngữ tương tự nhắm đến nam giới.

Ứng dụng

Lý thuyết nhóm bị làm cho im tiếng có thể được áp dụng để hiểu những vấn đề của các nhóm bị gạt ra bên lề. Khi phụ nữ ngày nay trở nên có năng lực hơn và đóng góp bình đẳng hơn cho gia đình, cùng với sự gia tăng nhận thức xã hội, nhận thức về sự thống trị có thể được thay đổi. Các nghiên cứu nhân học vốn chỉ tập trung vào những tiếng nói thống trị cũng có thể được điều chỉnh bằng cách phản ánh xã hội như một toàn thể.

Ví dụ

Việc phụ nữ bị khuôn mẫu hóa có thể được nhìn thấy rõ trong truyền thông đại chúng, và hiện tượng này đã được chuyển hóa thành một phần của văn hóa đại chúng. Trong nhiều quảng cáo dành cho các sản phẩm nam giới, phụ nữ thường bị khắc họa như biểu tượng tình dục. Nhãn quan của nam giới về phụ nữ vì thế bị thu hẹp vào hai hình ảnh chính, hoặc là biểu tượng tình dục, hoặc là biểu tượng cảm xúc.

TRUYỀN THÔNG VĂN HÓA

Một số lý thuyết và chủ đề liên quan đến truyền thông văn hóa gồm có:

  1. Lý thuyết hiệu ứng bảng chữ cái.

  2. Lý thuyết thích nghi truyền thông.

  3. Truyền thông xuyên văn hóa.

  4. Lý thuyết vun trồng.

  5. Lý thuyết căn tính văn hóa.

  6. Chủ nghĩa duy vật văn hóa.

  7. Lý thuyết thương lượng thể diện.

  8. Các chiều kích khác biệt văn hóa của Hofstede.

  9. Các cộng đồng tưởng tượng theo Benedict Anderson.

  10. Lý thuyết khoảng cách tri thức.

  11. Lý thuyết lệ thuộc truyền thông.

  12. Lý thuyết phương tiện.

  13. Lý thuyết hiện đại hóa.

  14. Chủ nghĩa hiện đại.

  15. Lý thuyết nhóm câm lặng.

  16. Chủ nghĩa hậu hiện đại.

  17. Lý thuyết phân tầng xã hội cùng các ví dụ.

  18. Lý thuyết văn hóa xã hội.

  19. Lý thuyết vòng xoáy im lặng.

  20. Tìm hiểu quyền bá chủ văn hóa qua các ví dụ.

Chủ nghĩa Victoria.

Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.

Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.