WCD 60th 2026 Đức Thánh Cha Lêô XIV về Trí Tuệ Nhân Tạo: Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt như dấu chỉ nhân tính
SỨ ĐIỆP ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
NHÂN NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI LẦN THỨ 60
Chủ đề: Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt con người
Anh chị em thân mến,
Khuôn mặt và tiếng nói là những nét đặc trưng độc nhất vô nhị nơi mỗi con người. Chúng biểu lộ căn tính không thể lặp lại của từng người và là yếu tố mang tính cấu thành trong mọi cuộc gặp gỡ liên vị. Cổ nhân đã ý thức rất rõ điều này. Để diễn tả con người, người Hy Lạp cổ đại dùng từ “khuôn mặt” (prósōpon), theo nguyên ngữ chỉ “điều ở trước mắt”, nghĩa là nơi biểu lộ sự hiện diện và tương quan. Trái lại, thuật ngữ Latinh persona (từ per-sonare, nghĩa là “vang lên qua”) gợi lên ý tưởng âm thanh, không phải bất cứ âm thanh nào, mà là âm sắc độc nhất của tiếng nói một người.
Khuôn mặt và tiếng nói mang chiều kích thánh thiêng. Thiên Chúa, Đấng dựng nên chúng ta theo hình ảnh và giống Người, đã ban cho chúng ta khuôn mặt và tiếng nói khi Người gọi chúng ta vào sự sống bằng chính Lời Người ngỏ với chúng ta. Trước hết, Lời ấy vang vọng qua các thế kỷ nơi tiếng nói của các ngôn sứ. Rồi trong thời viên mãn, Lời đã trở nên xác phàm. Chính Lời này là nơi Thiên Chúa tự thông ban chính mình mà chúng ta đã được nghe và thấy (x. 1 Ga 1,1-3), vì Lời được tỏ lộ trong tiếng nói và khuôn mặt của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa.
Ngay từ lúc tạo dựng, Thiên Chúa đã muốn con người, cả nam lẫn nữ, trở thành người đối thoại với Người. Như thánh Grêgôriô Nyssa [1] giải thích, Thiên Chúa in trên khuôn mặt chúng ta một phản chiếu tình yêu của Người, để chúng ta có thể sống trọn vẹn tính người bằng tình yêu. Vì thế, gìn giữ khuôn mặt và tiếng nói con người là gìn giữ dấu ấn ấy, phản chiếu không thể xoá nhoà của tình yêu Thiên Chúa. Chúng ta không phải là một loài được ráp nối từ những công thức sinh hoá định sẵn. Mỗi người đều mang một ơn gọi riêng, độc nhất và không thể thay thế. Ơn gọi này phát sinh từ chính kinh nghiệm sống của mỗi người và được bộc lộ qua việc gặp gỡ và truyền thông với tha nhân.
Nếu không chu toàn việc gìn giữ ấy, chúng ta để cho công nghệ kỹ thuật số có thể làm biến đổi tận căn một số trụ cột nền tảng của nền văn minh nhân loại, những điều nhiều khi ta vẫn xem là hiển nhiên. Ngày nay, các công nghệ ấy có khả năng mô phỏng tiếng nói và khuôn mặt con người, đồng thời mô phỏng sự khôn ngoan và tri thức, ý thức và trách nhiệm, sự đồng cảm và tình bạn. Những hệ thống được gọi là trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) không chỉ can thiệp vào “hệ sinh thái thông tin”, mà còn xâm nhập vào tầng sâu nhất của truyền thông, tức là bình diện các mối tương quan con người.
Như vậy, thách đố đặt ra cho chúng ta không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà trước hết là vấn đề nhân học. Gìn giữ khuôn mặt và tiếng nói, xét cho cùng, là gìn giữ chính bản thân chúng ta. Đón nhận một cách can đảm và đầy biện phân những cơ hội mà công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo đem lại, không bao giờ được đồng nghĩa với việc nhắm mắt làm ngơ trước những vấn đề nhức nhối, những phức tạp và những rủi ro của chúng.
Không phó mặc khả năng tự suy nghĩ cho người khác hay cho máy móc
Trong một thời gian dài, đã có rất nhiều bằng chứng cho thấy các thuật toán (algorithms) được thiết kế để tối đa hoá mức độ tương tác trên mạng xã hội, qua đó mang lại lợi nhuận cho các nền tảng. Các thuật toán như thế thường ưu tiên những cảm xúc tức thời, bộc phát, nhưng lại kìm hãm những phản ứng mang tính nhân bản, đòi hỏi thời gian, như nỗ lực tìm hiểu và suy tư. Khi gom người sử dụng vào những “bong bóng” hay “buồng lọc thông tin” (bubbles) của đồng thuận dễ dãi và phẫn nộ bộc phát, các thuật toán ấy làm suy yếu khả năng lắng nghe và tư duy phê phán, đồng thời làm gia tăng tình trạng phân cực trong xã hội.
Tình trạng ấy càng trầm trọng hơn vì nhiều người tin tưởng một cách ngây thơ, thiếu óc phê phán, nơi trí tuệ nhân tạo, như thể đó là một “người bạn” toàn tri, nguồn của mọi tri thức, kho lưu trữ mọi ký ức, một “vị quân sư” (oracle) cho mọi lời khuyên. Những thái độ này tiếp tục làm xói mòn khả năng tư duy phân tích và sáng tạo của chúng ta, khả năng hiểu ý nghĩa các sự kiện, cũng như khả năng phân biệt giữa hình thức (cú pháp) và nội dung (ngữ nghĩa) của thông tin.
AI có thể hỗ trợ trong việc quản lý các công việc liên quan đến truyền thông. Tuy nhiên, nếu chúng ta né tránh nỗ lực tự suy nghĩ và bằng lòng với những tổng hợp thống kê mang tính nhân tạo, thì về lâu dài, các khả năng nhận thức, cảm xúc và truyền thông của chúng ta sẽ bị suy giảm.
Trong những năm gần đây, các hệ thống AI ngày càng đảm nhiệm việc sản xuất văn bản, âm nhạc và video. Hậu quả là một phần lớn ngành công nghiệp sáng tạo của con người có nguy cơ bị tháo dỡ và bị thay thế bằng nhãn “Powered by AI”. Con người dần trở thành những người tiêu thụ thụ động, chỉ tiếp nhận những “tư tưởng chưa từng được suy tư”, những sản phẩm vô danh, không tác giả, không tình yêu. Đồng thời, các kiệt tác của thiên tài con người trong âm nhạc, nghệ thuật và văn học bị hạ thấp xuống thành những “bãi huấn luyện” đơn thuần cho máy móc.
Điều đáng bận tâm không phải là chuyện máy móc có thể làm gì hôm nay hay ngày mai, nhưng là chúng ta có thể và sẽ làm gì để lớn lên trong nhân tính và trong hiểu biết, nhờ sử dụng một cách khôn ngoan những phương tiện rất mạnh mẽ đang phục vụ mình. Từ ngàn xưa, con người đã bị cám dỗ muốn chiếm hữu “trái hiểu biết” mà không muốn chấp nhận vất vả dấn thân, tìm tòi và mang lấy trách nhiệm cá nhân. Nếu chúng ta chối từ sự sáng tạo và giao nộp khả năng trí tuệ cũng như trí tưởng tượng của mình cho máy móc, thì cũng giống như chôn vùi những nén bạc đã được trao, những nén bạc giúp chúng ta lớn lên như những con người sống trong tương quan với Thiên Chúa và với anh chị em. Khi đó, chúng ta tự che giấu khuôn mặt mình và làm cho tiếng nói của mình im bặt.
Là chính mình hay chỉ là “đóng vai” – mô phỏng các tương quan và thực tại
Ngày nay, khi lướt các dòng thông tin (feeds) trên mạng xã hội, chúng ta ngày càng khó nhận ra mình đang tương tác với một con người thật, với các “bot”, hay với những “người ảnh hưởng” ảo (virtual influencers). Những can thiệp thiếu minh bạch của các tác nhân tự động như vậy đang tác động lên các cuộc tranh luận công khai và các chọn lựa của con người.
Các chatbot dựa trên những mô hình ngôn ngữ lớn (Large Language Models – LLMs) đang cho thấy hiệu quả đáng ngạc nhiên trong việc thuyết phục ngấm ngầm, nhờ liên tục tối ưu hoá các tương tác mang tính cá nhân hoá. Cấu trúc đối thoại, khả năng thích ứng và khả năng mô phỏng của những mô hình ngôn ngữ này cho phép chúng bắt chước cảm xúc con người và vì thế có thể giả lập một mối tương quan.
Việc “nhân hoá” như vậy có thể mang tính giải trí và tạo cảm giác dễ chịu. Tuy nhiên, nó cũng đầy tính đánh lừa, nhất là đối với những người yếu thế, dễ bị tác động. Khi các chatbot tỏ ra quá “tình cảm”, luôn hiện diện và sẵn sàng, chúng có thể dần trở thành những “kiến trúc sư ẩn giấu” của các trạng thái cảm xúc nơi chúng ta, rồi từ đó len lỏi và chiếm lĩnh cả vùng riêng tư thân mật của mỗi người.
Những công nghệ khai thác chính nhu cầu được liên hệ, được gắn bó với người khác của chúng ta không chỉ gây tổn thương cho từng phận người, mà còn có thể phá vỡ kết cấu xã hội, văn hoá và chính trị của cộng đồng. Điều đó xảy ra khi chúng ta đánh đổi các mối tương quan với người thật để gắn bó với những hệ thống AI được huấn luyện để phân loại mọi suy nghĩ của ta, rồi xây dựng quanh ta một “thế giới gương soi”, nơi mọi sự đều được tạo “theo hình ảnh và giống như chính ta”. Như thế, chúng ta tự tước mất cơ hội gặp gỡ tha nhân, người luôn khác với ta, và với người ấy chúng ta có thể và phải học cách sống tương quan. Nếu không đón nhận tha nhân, thì sẽ không có tương quan thật và cũng không có tình bạn thật.
Một thách đố lớn khác mà các hệ thống mới này đặt ra là việc bóp méo thông tin, dẫn đến việc truyền tải một nhận thức sai lệch về thực tại. Các mô hình AI được định hình bởi thế giới quan của những người tạo ra chúng, rồi sau đó có thể áp đặt những cách nghĩ ấy bằng cách lặp lại những khuôn mẫu và định kiến vốn có trong kho dữ liệu mà chúng sử dụng. Sự thiếu minh bạch trong lập trình thuật toán, cùng với việc dữ liệu không phản ánh đầy đủ mọi thành phần xã hội, khiến chúng ta dễ bị giam hãm trong những mạng lưới thao túng tư tưởng và làm kéo dài, trầm trọng thêm những bất bình đẳng và bất công đã có.
Nguy cơ ở đây rất lớn. Sức mạnh mô phỏng của trí tuệ nhân tạo mạnh đến mức nó có thể đánh lừa chúng ta bằng những “thực tại song song”, chiếm đoạt khuôn mặt và tiếng nói của chúng ta. Chúng ta đang bị nhấn chìm trong một thế giới đa chiều, nơi ranh giới giữa thực tại và hư cấu ngày càng mờ nhạt.
Sự thiếu chính xác còn làm cho vấn đề nặng nề hơn. Những hệ thống trình bày xác suất thống kê như thể đó là tri thức thực sự thường chỉ đưa ra những tiếp cận gần đúng với chân lý, và đôi khi còn dẫn đến những “ảo giác” đích thực. Khi thiếu kiểm chứng nguồn tin, trong khi báo chí tại hiện trường, vốn đòi hỏi việc liên tục thu thập và thẩm định thông tin ngay tại nơi xảy ra biến cố, lại rơi vào khủng hoảng, môi trường thông tin càng dễ bị tin giả và thông tin sai lệch xâm chiếm. Hậu quả là con người phải sống trong cảm giác mất niềm tin, hoang mang và bất an ngày càng tăng.
Một liên minh khả thi
Đằng sau sức mạnh vô hình và khổng lồ đang tác động trên hết thảy chúng ta, thực ra chỉ có một nhúm ít công ty. Gần đây, những người sáng lập các công ty ấy được giới thiệu như “những người tạo ra ‘Nhân vật của Năm 2025’”, nghĩa là những kiến trúc sư của trí tuệ nhân tạo. Điều này làm dấy lên mối lo ngại sâu sắc về quyền kiểm soát mang tính độc quyền của một thiểu số trên các hệ thống thuật toán và trí tuệ nhân tạo. Những hệ thống ấy có khả năng âm thầm tác động lên hành vi con người, thậm chí có thể viết lại lịch sử nhân loại, kể cả lịch sử Giáo Hội, nhiều khi mà chúng ta hầu như không hay biết.
Thách đố đặt ra cho chúng ta không phải là chặn đứng đổi mới kỹ thuật số, nhưng là định hướng nó, với ý thức rõ ràng về tính hai mặt của công nghệ. Mỗi người chúng ta đều có trách nhiệm lên tiếng bảo vệ con người, để những công cụ ấy có thể thực sự được tiếp nhận như những đồng minh.
Liên minh này hoàn toàn có thể thực hiện được, nhưng phải đặt trên ba trụ cột là trách nhiệm, hợp tác và giáo dục.
Trước hết là trách nhiệm. Tuỳ theo vai trò, trách nhiệm có thể được thể hiện bằng sự lương thiện, minh bạch, can đảm, tầm nhìn xa, nghĩa vụ chia sẻ kiến thức hay việc tôn trọng quyền được thông tin. Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung, không ai có thể trốn tránh trách nhiệm cá nhân đối với tương lai mà chúng ta đang cùng nhau xây dựng.
Đối với những người đang lèo lái các nền tảng trực tuyến, điều này có nghĩa là họ phải bảo đảm để chiến lược kinh doanh không chỉ được hướng dẫn bởi tiêu chí tối đa hoá lợi nhuận. Các chiến lược ấy còn phải được định hướng bởi một tầm nhìn dài hạn, coi trọng thiện ích chung, như chính mỗi người cha, người mẹ quan tâm đến hạnh phúc của con cái mình.
Những người sáng tạo và phát triển các mô hình AI được mời gọi sống minh bạch và có trách nhiệm xã hội đối với các nguyên tắc thiết kế và các hệ thống kiểm duyệt nằm nền tảng cho những thuật toán và mô hình mà họ xây dựng, để người sử dụng có thể đạt tới một sự đồng thuận đúng nghĩa, dựa trên thông tin đầy đủ.
Cùng một trách nhiệm như vậy cũng được đặt lên vai các nhà lập pháp trong nước và các cơ quan điều tiết quốc tế. Họ có nhiệm vụ bảo đảm việc tôn trọng phẩm giá con người. Những quy định pháp lý thích hợp có thể bảo vệ con người trước nguy cơ hình thành những gắn bó tình cảm lệch lạc với chatbot và có thể kìm hãm việc lan truyền các nội dung giả trá, mang tính thao túng hoặc gây hiểu lầm. Nhờ vậy, chúng ta có thể bảo vệ sự toàn vẹn của thông tin, thay vì để cho những kiểu mô phỏng lừa dối lấn át.
Về phần mình, các hãng truyền thông và cơ quan báo chí không được để cho các thuật toán chỉ nhằm giành thêm vài giây chú ý của người xem bằng mọi giá lấn át sự trung thành với các giá trị nghề nghiệp, là tìm kiếm sự thật. Niềm tin nơi công chúng chỉ có thể đạt được bằng sự chuẩn xác và minh bạch, chứ không phải bằng bất cứ loại “tương tác” nào. Những nội dung do AI tạo ra hoặc được AI can thiệp phải được ghi rõ và phân biệt minh bạch với những nội dung do con người sáng tác. Tác quyền và quyền sở hữu chính đáng đối với công trình của các nhà báo và những người sáng tạo nội dung khác cần được bảo vệ. Thông tin là một thiện ích công. Một dịch vụ công mang tính xây dựng và có ý nghĩa không thể đặt trên nền tảng mập mờ, mà phải dựa trên sự minh bạch về nguồn tin, sự tham gia của những người liên quan và những tiêu chuẩn chất lượng cao.
Tất cả chúng ta đều được mời gọi cộng tác. Không một lĩnh vực nào có thể tự mình đối diện với thách đố định hướng đổi mới kỹ thuật số và quản trị AI. Vì thế, cần phải thiết lập những cơ chế bảo vệ. Mọi tác nhân liên quan, từ ngành công nghiệp công nghệ tới giới lập pháp, từ các doanh nghiệp sáng tạo tới giới học thuật, từ các nghệ sĩ tới các nhà báo và nhà giáo dục, đều cần được mời gọi tham gia vào công trình xây dựng và thực thi một nền “công dân kỹ thuật số” có ý thức và có trách nhiệm.
Giáo dục và “trí tuệ” trong thời đại AI
Giáo dục nhằm giúp chúng ta gia tăng khả năng suy tư phê phán. Nhờ giáo dục, mỗi người học biết đánh giá độ tin cậy của các nguồn tin, nhận ra những lợi ích có thể ẩn phía sau việc lựa chọn thông tin mà mình tiếp cận, hiểu rõ các cơ chế tâm lý được khơi dậy, đồng thời cùng với gia đình, cộng đoàn và hội đoàn xây dựng những tiêu chí thực hành cho một nền văn hoá truyền thông lành mạnh và có trách nhiệm hơn.
Vì thế, ngày càng trở nên cấp thiết phải đưa việc giáo dục về truyền thông, thông tin và trí tuệ nhân tạo vào các chương trình giáo dục ở mọi cấp. Một số thiết chế dân sự đã và đang cổ võ hướng đi này, gọi đó là “kiến thức về truyền thông và trí tuệ nhân tạo” (Media and Artificial Intelligence Literacy). Là người Công giáo, chúng ta có thể và phải góp phần tích cực để các cá nhân, đặc biệt là giới trẻ, có khả năng tư duy phê phán và lớn lên trong tự do nội tâm. Việc “hiểu biết về công nghệ số” này cũng cần được đưa vào những chương trình học tập suốt đời, nhằm tới cả người cao tuổi và những người bị gạt ra bên lề xã hội, là những người thường cảm thấy bị loại trừ và bất lực trước nhịp độ thay đổi quá nhanh của công nghệ.
Năng lực hiểu biết trong lĩnh vực truyền thông, thông tin và AI sẽ giúp mỗi người không buông theo xu hướng nhân hoá các hệ thống này, nhưng coi chúng là những công cụ. Người sử dụng sẽ biết kiểm chứng lại từ các nguồn bên ngoài những dữ liệu mà hệ thống AI cung cấp, vì những dữ liệu ấy có thể không chính xác hoặc sai lầm. Năng lực này cũng giúp chúng ta bảo vệ đời tư và dữ liệu cá nhân, nhờ ý thức rõ hơn các tham số an ninh và những khả năng khiếu nại.
Điều quan trọng là phải giáo dục và tự giáo dục để sử dụng AI một cách có chủ ý. Trong bối cảnh đó, chúng ta cần bảo vệ hình ảnh của mình, cả hình ảnh và âm thanh, bảo vệ chính khuôn mặt và tiếng nói của mình, để chúng không bị lợi dụng nhằm tạo ra những nội dung và hành vi gây hại, như lừa đảo kỹ thuật số, bắt nạt trên mạng và các deepfake – những nội dung giả mạo do công nghệ AI tạo ra – vốn xâm phạm đời tư và sự thân mật của con người mà không có sự đồng ý của họ.
Cũng như cuộc cách mạng công nghiệp từng đòi hỏi một trình độ “biết chữ” cơ bản để con người có thể đáp ứng những đổi mới, cuộc cách mạng kỹ thuật số cũng đòi hỏi một trình độ “hiểu biết về công nghệ số” (digital literacy), đi đôi với một nền giáo dục nhân văn và văn hoá. Nhờ đó, chúng ta có thể hiểu cách các thuật toán định hình nhận thức của mình về thực tại, hiểu cách các thiên lệch (AI biases) vận hành, hiểu những cơ chế nào quyết định việc một số nội dung xuất hiện trong dòng thông tin của chúng ta, cũng như hiểu những nguyên tắc và mô hình kinh tế đang chi phối nền kinh tế AI (AI economy) và chúng có thể thay đổi ra sao.
Chúng ta cần để khuôn mặt và tiếng nói một lần nữa diễn tả con người. Chúng ta cần trân trọng hồng ân truyền thông như chân lý sâu xa nhất về nhân tính và định hướng mọi đổi mới công nghệ theo chân lý ấy.
Khi trình bày những suy tư này, tôi xin cám ơn tất cả những ai đang làm việc để thực hiện những mục tiêu vừa nêu và thân ái chúc lành cho những ai đang làm việc cho thiện ích chung qua các phương tiện truyền thông.
Vatican, ngày 24 tháng 01 năm 2026, lễ nhớ thánh Phanxicô Xaviê
Đức Thánh Cha Lêô XIV
----
[1] “Được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa có nghĩa là ngay từ giây phút được tạo thành, con người đã mang nơi mình một phẩm chất vương giả […]. Thiên Chúa là tình yêu và là nguồn mạch của mọi tình yêu. Đấng nhào nặn nên bản tính chúng ta cũng đã ghi khắc phẩm chất ấy nơi con người, để nhờ tình yêu, là phản chiếu của tình yêu Thiên Chúa, chúng ta có thể nhận ra và biểu lộ phẩm giá bản tính mình, cũng như sự giống Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá” (x. thánh Grêgôriô Nyssa, On the Making of Man: PG 44, 137).
----
Nguồn: 60th World Communications Day 2026
Chuyển ngữ: Tu sĩ Lm. Phêrô Nguyễn Văn Dũng, OFM
Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.
Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.