ISSN xxxx-xxxx (Online)
Top banner
Thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh (03/09) - Thánh Tê-rê-sa Can-cút-ta (05/09) - SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MA-RI-A (08/09) - Thánh Phê-rô Cơ-la-ve, linh mục (09/09) - Danh thánh Đức Ma-ri-a (12/09) - Thánh Gio-an Kim Khẩu, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh (13/09) - SUY TÔN THÁNH GIÁ (14/09) - Đức Mẹ sầu bi (15/09) - Thánh Co-nê-li-ô, giáo hoàng và thánh Síp-ri-a-nô, giám mục, tử đạo (16/09) - Thánh Rô-be-tô Be-la-mi-nô, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh (17/09) - Thánh Gia-nu-a-ri-ô, giám mục, tử đạo (19/09) - Thánh An-rê Kim, Phao-lô Chung và các bạn, tử đạo (20/09) - THÁNH MÁT-THÊU, TÔNG ĐỒ, TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG (21/09) - Thánh Pi-ô Pi-ết-ren-si-na, linh mục (23/09) - TẾT TRUNG THU (25/09) - Thánh Cót-ma và thánh Đa-mi-a-nô, tử đạo (26/09) - Thánh Vinh-sơn Phao-lô, linh mục (27/09) - Thánh Lô-ren-xô Ru-y và các bạn, tử đạo (28/09) - Thánh Ven-xét-lao, tử đạo (28/09) - CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MI-CA-EN, GÁP-RI-EN, RA-PHA-EN (29/09) - Thánh Giê-rô-ni-mô, linh mục, tiến sĩ Hội Thánh (30/09) - Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, trinh nữ, tiến sĩ Hội thánh (01/10) - Các thiên thần hộ thủ (02/10) - Kính trọng thể lễ Đức Mẹ Mân Côi (07/10)
Nền tảng Suy tư Thư viện số Lớp học Tin tức Lịch Sự kiện Tài liệu Media
Ngôn ngữ

Trí tuệ nhân tạo là công cụ, còn phẩm giá con người mới là La Bàn

COMMUNICATION-THEOLOGY
2026-03-19 09:09 UTC+7 251

ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ THAM DỰ PHIÊN HỌP G7 VỀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO 

[13–15 tháng 6 năm 2024]

DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ 

Tại Borgo Egnazia (Puglia) 

Thứ Sáu, ngày 14 tháng 6 năm 2024

Chủ đề: MỘT CÔNG CỤ VỪA ĐẦY HỨA HẸN VỪA ĐÁNG LO NGẠI

g7-pope-francis-with-ai-1773889229.jpg
www.reuters.com

Kính thưa quý vị,

Hôm nay, tôi ngỏ lời với quý vị, những vị lãnh đạo của Diễn đàn Liên chính phủ G7, về những tác động của trí tuệ nhân tạo (AI) đối với tương lai nhân loại.

Thánh Kinh chứng thực rằng Thiên Chúa đã ban Thần Khí của Người cho con người, để họ có “tài khéo, sự hiểu biết và tri thức trong mọi nghề thủ công” (Xh 35,31)[1]. Vì thế, khoa học và kỹ thuật là những thành quả rực rỡ của tiềm năng sáng tạo nơi con người.[2] Quả thực, trí tuệ nhân tạo được sinh ra từ việc con người sử dụng chính tiềm năng sáng tạo Thiên Chúa đã trao ban.

Như chúng ta biết, trí tuệ nhân tạo là một công cụ rất mạnh, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người, từ y học đến lao động, từ văn hóa đến truyền thông, từ giáo dục đến chính trị. Có thể tin chắc rằng việc ứng dụng này sẽ ngày càng tác động đến lối sống, các tương quan xã hội, và thậm chí đến cách chúng ta hình dung về căn tính của mình như là con người.[3]

Tuy nhiên, câu hỏi về trí tuệ nhân tạo thường được cảm nhận như mang tính nước đôi. Một mặt, nó gợi lên sự hào hứng trước các khả năng mà nó mở ra. Mặt khác, nó khơi dậy nỗi lo trước những hệ quả có thể kéo theo. Vì thế, có thể nói rằng tất cả chúng ta, dù ở những mức độ khác nhau, đều cùng lúc trải nghiệm hai cảm xúc. Chúng ta phấn khởi khi hình dung những tiến bộ có thể xuất phát từ trí tuệ nhân tạo, nhưng đồng thời cũng dè dặt khi nhận thấy những nguy hiểm có thể nảy sinh từ việc sử dụng nó.[4]

Rốt cuộc, chúng ta không thể nghi ngờ rằng sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo là một cuộc cách mạng vừa về nhận thức vừa về công nghiệp, và sẽ góp phần kiến tạo một hệ thống xã hội mới, mang dấu ấn của những biến chuyển phức tạp ở bình diện thời đại. Chẳng hạn, trí tuệ nhân tạo có thể mở đường cho việc dân chủ hóa quyền tiếp cận tri thức, cho những bước tiến khoa học tăng tốc theo cấp số nhân, và cho khả năng giao phó các công việc đòi hỏi cao, nặng nhọc cho máy móc. Thế nhưng đồng thời, nó cũng có thể làm trầm trọng thêm bất công giữa các quốc gia tiên tiến và các quốc gia đang phát triển, hoặc giữa các nhóm có quyền lực và các nhóm bị gạt ra bên lề. Từ đó gợi lên một nguy cơ đáng sợ. Người ta sẽ ưu tiên một “văn hóa loại bỏ” (throwaway culture) hơn là một “văn hóa gặp gỡ” (culture of encounter).

Ý nghĩa của những biến đổi phức tạp ấy rõ ràng gắn liền với chính sự phát triển công nghệ nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo. Chính đà tiến bộ mạnh mẽ này vừa khơi dậy hy vọng vừa làm dấy lên lo ngại, và đòi hỏi một suy tư tương xứng với thách đố mà nó đặt ra.

Ở đây, có lẽ chúng ta có thể khởi đi từ một nhận xét cơ bản. Trí tuệ nhân tạo, trước hết và trên hết, là một công cụ. Lợi ích hay tác hại mà nó mang lại tùy thuộc vào cách nó được sử dụng.

Điều đó chắc chắn đúng, vì từ thuở rất xa xưa, mọi công cụ do con người làm ra vẫn luôn như thế. Việc chúng ta có thể chế tạo công cụ, nhiều và phức tạp đến mức không sinh vật nào sánh kịp, cho thấy một thực trạng đặc biệt. Con người luôn gắn bó với môi trường chung quanh qua trung gian những công cụ mà họ từ từ tạo ra. Không thể tách lịch sử nhân loại và nền văn minh khỏi lịch sử của các công cụ ấy.

Có người cho rằng điều đó chứng tỏ con người còn có một thiếu sót nào đó, như thể vì thiếu nên mới phải nghĩ ra kỹ thuật.[5] Nhưng nhìn kỹ và khách quan, ta thấy điều ngược lại. Chúng ta mang nơi mình một “tính hướng ngoại”, nghĩa là luôn bị cuốn về điều ở ngoài mình và sâu xa hơn, luôn mở ra với Đấng vượt lên trên mình. Từ đó phát sinh sự mở ra của chúng ta với người khác và với Thiên Chúa, cũng như sức sáng tạo của trí tuệ trong văn hóa và nghệ thuật. Và chính từ đó cũng nảy sinh khả năng kỹ thuật. Vì vậy, công nghệ là dấu chỉ cho việc con người hướng về tương lai.

Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ của chúng ta không phải lúc nào cũng nhắm thuần túy đến điều thiện. Dẫu con người cảm nghiệm trong chính mình một lời mời gọi hướng về cái siêu vượt, và hướng đến tri thức như một phương tiện của điều thiện để phục vụ anh chị em và “ngôi nhà chung” (x. Gaudium et Spes, số 16), điều ấy vẫn không luôn được hiện thực hóa. Khi lạm dụng tự do căn để (radical freedom) của mình, nhân loại nhiều lần đã làm băng hoại các cứu cánh của chính mình, trở thành kẻ thù của bản thân và của hành tinh.[6]

Điều tương tự có thể xảy ra với các phương tiện công nghệ. Chỉ khi cứu cánh đích thực, tức là phục vụ con người, được bảo đảm, các phương tiện ấy mới cho thấy không những sự cao cả và phẩm giá độc nhất của nam nữ, mà còn mệnh lệnh mầu nhiệm đã được trao, đó là “canh tác và gìn giữ” (x. St 2,15) trái đất và mọi thụ tạo cư ngụ trên đó. Nói về công nghệ là nói về điều làm nên con người. Vì thế, cũng là nói về vị thế độc đáo của chúng ta như hữu thể vừa tự do vừa có trách nhiệm. Nói như vậy là đang nói về luân lý.

Thực tế cho thấy điều này. Khi ông cha chúng ta mài đá lửa làm dao, dao ấy có thể dùng để cắt da may áo, nhưng cũng có thể dùng để giết nhau. Điều đó cũng đúng với những công nghệ cao hơn, như năng lượng do sự hợp hạch nguyên tử tạo ra, giống như trong Mặt Trời. Năng lượng ấy có thể được dùng để tạo nguồn năng lượng sạch và tái tạo, hoặc cũng có thể hủy diệt hành tinh này, biến nó thành tro tàn.

Nhưng trí tuệ nhân tạo là một công cụ còn phức tạp hơn nữa. Tôi gần như muốn gọi nó là một loại công cụ “đặc biệt” (sui generis). Với một công cụ đơn giản như con dao, người dùng kiểm soát nó và việc dùng nó cho điều tốt hay không tùy ở người dùng. Còn trí tuệ nhân tạo thì có thể tự điều chỉnh theo nhiệm vụ được giao. Nếu được thiết kế như vậy, nó còn có thể tự đưa ra những lựa chọn, không còn lệ thuộc trực tiếp vào người dùng, để đạt mục tiêu đã đặt ra.[7]

Chúng ta luôn phải nhớ rằng máy móc, theo một số cách và nhờ những phương pháp mới, có thể tạo ra các lựa chọn theo thuật toán. Máy chỉ đưa ra một lựa chọn kỹ thuật giữa nhiều khả năng, dựa trên tiêu chí rõ ràng hoặc dựa trên suy luận thống kê. Nhưng con người không chỉ “chọn”. Con người còn “quyết định”. Quyết định là một chiều kích sâu hơn và mang tính định hướng hơn trong việc lựa chọn. Nó đòi hỏi phải cân nhắc thực tế. Nhiều lúc, nhất là khi phải gánh vác việc quản trị vốn khó khăn, chúng ta buộc phải đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến nhiều người.

Từ xưa, con người gọi năng lực ấy là khôn ngoan, phronesis trong triết học Hy Lạp, và phần nào là sự khôn ngoan của Thánh Kinh. Trước những điều kỳ diệu của máy móc, dường như biết tự lựa chọn, chúng ta phải thật rõ ràng. Việc ra quyết định, dù đôi khi gấp gáp và có thể rất nghiêm trọng, phải luôn thuộc về con người. Nếu lấy đi từ con người khả năng quyết định về chính mình và cuộc đời mình và bắt họ lệ thuộc vào lựa chọn của máy móc, chúng ta sẽ đẩy nhân loại vào một tương lai không còn hy vọng. Vì thế, phải bảo đảm và gìn giữ một khoảng không gian cho sự kiểm soát đúng nghĩa của con người đối với các lựa chọn do chương trình AI đưa ra. Phẩm giá con người tùy thuộc vào điều đó.

Chính trong viễn tượng đó, trước thảm kịch của các xung đột vũ trang, cần khẩn cấp rà soát lại việc phát triển và triển khai các thiết bị như những “hệ vũ khí tự trị sát thương” (lethal autonomous weapons) và cuối cùng phải cấm việc sử dụng chúng. Điều này đòi hỏi một cam kết thực chất và cụ thể nhằm thiết lập một cơ chế kiểm soát của con người ngày càng tăng cường và thích đáng. Không một máy móc nào được phép quyết định việc tước đoạt mạng sống của con người.

Cũng cần nói thêm rằng việc sử dụng tốt, ít là đối với những dạng AI tiên tiến, sẽ không còn hoàn toàn nằm trong tay người dùng hay trong tay những người lập trình đã đặt mục tiêu ban đầu khi thiết kế. Điều này càng đúng vì rất có thể trong tương lai gần, các chương trình AI sẽ tự trao đổi trực tiếp với nhau để hoạt động hiệu quả hơn. Trước đây, khi con người làm ra những công cụ đơn giản, họ cũng bị các công cụ ấy “uốn nắn” cuộc sống. Con dao giúp họ sống sót giữa lạnh giá, nhưng cũng dẫn tới nghệ thuật chiến tranh. Hôm nay, khi con người làm ra các công cụ phức tạp, đời sống họ lại càng bị chúng định hình hơn nữa.[8]

NỀN TẢNG HOẠT ĐỘNG CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Giờ đây, tôi xin đề cập vắn tắt đến tính phức tạp của trí tuệ nhân tạo. Về cốt lõi, trí tuệ nhân tạo là một công cụ được thiết kế để giải quyết vấn đề. Nó vận hành nhờ sự liên kết lô-gic của các phép toán đại số áp dụng trên những hạng mục dữ liệu. Rồi các hạng mục ấy được đem đối chiếu để nhận ra các tương quan, hầu gia tăng giá trị thống kê. Điều này được thực hiện nhờ một tiến trình tự học, dựa trên việc truy tìm thêm dữ liệu và tự điều chỉnh các tiến trình tính toán.

Trí tuệ nhân tạo được cấu trúc như thế nhằm giải quyết những vấn đề xác định. Tuy vậy, nơi người dùng thường xuất hiện một cám dỗ khó cưỡng. Từ các lời giải cụ thể mà hệ thống đưa ra, người ta dễ suy diễn đến những kết luận tổng quát, thậm chí những kết luận mang tính nhân học.

Một minh họa quan trọng là việc dùng các chương trình hỗ trợ thẩm phán trong quyết định có cho người đang thụ án được quản thúc tại gia hay không. Khi ấy, hệ thống AI được yêu cầu dự đoán xác suất người phạm tội sẽ tái phạm cùng loại tội, hoặc các tội trước đây. Nó thực hiện dự báo dựa trên các hạng mục được xác lập sẵn, chẳng hạn loại tội danh, hành vi trong trại giam, lượng định tâm lý, v.v. Qua đó, hệ thống tiếp cận những dữ liệu liên quan đến đời sống riêng tư, chẳng hạn nguồn gốc sắc tộc, trình độ học vấn, xếp hạng tín dụng, v.v.

Việc sử dụng phương pháp luận này, đôi khi có nguy cơ trên thực tế trao cho máy móc vai trò như thể là phán quyết cuối cùng về tương lai của một con người, có thể âm thầm tích hợp những thiên kiến vốn nằm ngay trong cách các dữ liệu được phân loại và cấu trúc.

Việc bị xếp vào một nhóm sắc tộc nhất định, hoặc chỉ vì đã phạm một vi phạm nhỏ cách đây nhiều năm, thí dụ không nộp tiền phạt đỗ xe, thực tế có thể chi phối quyết định có chấp thuận quản thúc tại gia hay không. Thế nhưng con người luôn ở trong tiến trình hình thành và phát triển, và có thể gây ngạc nhiên qua hành vi của mình. Đó là một yếu tố mà máy móc không thể đưa vào lượng định một cách tương xứng.

Đồng thời, cần ghi nhận rằng các ứng dụng tương tự như ứng dụng vừa nêu sẽ được sử dụng với tần suất ngày càng cao, vì các chương trình AI sẽ ngày càng được tích hợp năng lực tương tác trực tiếp với con người, chẳng hạn chatbot. Các hệ thống ấy có thể thực hiện đối thoại và tạo cảm giác về những mối gắn kết gần gũi mang tính “ảo”. Những tương tác ấy rốt cuộc có thể, thường xuyên hơn là không, mang lại cảm giác dễ chịu và yên tâm, bởi các chương trình AI sẽ được thiết kế để học cách đáp ứng một cách cá nhân hóa các nhu cầu thể lý và tâm lý của con người.

Một sai lầm phổ biến và nghiêm trọng là quên rằng trí tuệ nhân tạo không phải là một chủ thể nhân vị. Vì thế, nó không thể đề xuất các nguyên lý mang tính tổng quát. Sai lầm này có thể bắt nguồn từ nhu cầu sâu thẳm của con người trong việc tìm kiếm một dạng thức đồng hành ổn định, hoặc từ một giả định ngầm. Giả định ấy cho rằng các quan sát thu được thông qua một cơ chế tính toán được bảo chứng bởi tính xác quyết tuyệt đối và tính phổ quát tuyệt đối.

Dẫu vậy, giả định này tỏ ra thiếu cơ sở. Điều đó có thể thấy rõ khi ta khảo sát các giới hạn cấu thành của bản thân hoạt động tính toán. Trí tuệ nhân tạo sử dụng những phép toán đại số được triển khai theo một chuỗi suy luận lô-gic, thí dụ, nếu X lớn hơn Y thì lấy X nhân với Y, bằng không thì lấy X chia cho Y. Phương thức tính toán ấy thường được gọi là “thuật toán”, không mang tính khách quan cũng không trung tính.[9] Đồng thời, do đặt nền trên đại số, nó chỉ có thể xử lý những thực tại đã được hình thức hóa thành các biểu thức và đại lượng số. [10]

Cũng cần nhớ rằng các thuật toán nhằm xử lý những vấn đề có độ phức tạp cao đôi khi tinh vi (sophisticated) đến mức ngay chính những người lập trình cũng khó nắm được một cách chính xác cơ chế mà qua đó chúng đi tới kết quả. Khuynh hướng gia tăng tính tinh vi này nhiều khả năng sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ khi máy tính lượng tử được đưa vào. Chúng sẽ không vận hành trên các mạch nhị phân, bán dẫn hoặc vi mạch, nhưng theo những định luật cực kỳ phức tạp của vật lý lượng tử.

Quả thực, việc liên tục đưa vào các vi mạch hiệu năng ngày càng cao đã trở thành một trong các yếu tố dẫn tới việc trí tuệ nhân tạo được một số ít quốc gia có năng lực trong lĩnh vực này khai thác với ưu thế vượt trội. Bất kể mức độ tinh vi, chất lượng các đáp án do các chương trình trí tuệ nhân tạo cung cấp chung cuộc lệ thuộc vào tập dữ liệu mà chúng sử dụng và vào cách các dữ liệu ấy được cấu trúc.

Sau hết, tôi xin nêu thêm một lĩnh vực cuối cùng, nơi tính phức hợp của cơ chế “trí tuệ nhân tạo tạo sinh” (Generative Artificial Intelligence) được thể hiện một cách rõ ràng. Ngày nay, không ai nghi ngờ rằng hiện có những công cụ xuất sắc để tiếp cận tri thức. Các công cụ ấy thậm chí còn cho phép tự học và tự hướng dẫn trong vô vàn ngành lĩnh vực. Nhiều người trong chúng ta đã ngạc nhiên trước các ứng dụng trực tuyến sẵn có, cho phép soạn thảo văn bản hoặc tạo hình ảnh theo bất kỳ chủ đề nào. Sinh viên đặc biệt dễ bị cuốn hút, nhưng thường sử dụng một cách không tương xứng khi phải chuẩn bị các bài nghiên cứu hoặc bài viết.

Sinh viên thường được chuẩn bị tốt hơn và quen thuộc hơn với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo so với giáo viên. Tuy nhiên, họ quên rằng, theo nghĩa nghiêm ngặt, cái gọi là “trí tuệ nhân tạo tạo sinh” không thực sự “tạo sinh” theo nghĩa sáng tạo. Nó chủ yếu trích xuất và truy hồi thông tin từ các tập dữ liệu lớn, rồi tái kết hợp chúng theo văn phong hoặc định dạng mà người dùng yêu cầu. Nó không nhất thiết triển khai các phân tích hoặc khái niệm mới, nhưng thường sắp xếp lại những gì nó thu thập được và trình bày dưới một hình thức hấp dẫn.

Do đó, một quan niệm hay giả thuyết càng xuất hiện với tần suất cao trong dữ liệu thì càng dễ được hệ thống mặc nhiên xem là hợp lệ và đúng đắn. Vì vậy, thay vì “tạo sinh” (generative), nó hoạt động theo hướng “củng cố” (reinforcing). Nó củng cố các nội dung sẵn có mà không luôn kiểm chứng xem chúng có chứa sai lầm hay định kiến hay không.

Theo chiều hướng này, hệ thống không những đối diện nguy cơ hợp thức hóa tin giả và gia cố ưu thế của một nền văn hóa thống trị, mà rốt cuộc còn bào mòn chính tiến trình giáo dục. Giáo dục lẽ ra phải tạo điều kiện cho người học có khả năng phản tư đích thực (authentic reflection). Thế nhưng nó có nguy cơ bị giản lược thành sự lặp lại của các khái niệm. Những khái niệm ấy sẽ ngày càng được xem là không thể bác bỏ, chỉ vì chúng liên tục được lặp lại.[11]

ĐƯA PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRỞ LẠI VỊ TRÍ TRUNG TÂM, DỰA TRÊN MỘT ĐỀ NGHỊ ĐẠO ĐỨC CHUNG

Giờ đây cần bổ sung một nhận xét tổng quát vào những gì đã nói. Thời đại đổi mới công nghệ mà chúng ta đang sống đi kèm một bối cảnh xã hội đặc biệt và chưa từng có. Ngày càng khó đạt được đồng thuận về những vấn đề lớn của đời sống chung. Ngay cả ở những cộng đồng có sự liên tục văn hóa tương đối, tranh luận gay gắt vẫn thường bùng lên. Điều đó khiến khó có được suy tư chung và những giải pháp chính trị hướng tới điều tốt và điều công bằng.

Vì thế, ngoài sự đa dạng và phức tạp của các quan điểm chính đáng trong gia đình nhân loại, còn có một yếu tố khác đang nổi lên. Đó là cảm thức về điều “thuộc nhân tính” bị suy giảm, hoặc ít nhất bị che khuất. Khái niệm phẩm giá con người dường như ngày càng bị coi nhẹ.[12]

Thực vậy, chúng ta có vẻ đang đánh mất giá trị và ý nghĩa sâu xa của một khái niệm then chốt trong truyền thống triết học và thần học Kitô giáo tại phương Tây, đó là khái niệm “nhân vị” (human person). Do đó, khi các chương trình AI đang “xem xét” con người và hành động của họ, thì chính nền tảng đạo đức liên quan đến việc hiểu giá trị và phẩm giá của nhân vị lại là điều dễ bị tổn thương nhất trong quá trình triển khai và phát triển các hệ thống này.

Cần nhớ rằng không có đổi mới nào là trung lập. Công nghệ ra đời để phục vụ một mục đích. Khi tác động lên xã hội, nó luôn tạo ra một trật tự nhất định trong các quan hệ xã hội và một sự phân bổ quyền lực. Nó cho phép một số người làm được những việc nào đó, đồng thời khiến những người khác không thể làm những việc khác. Theo cách ít hay nhiều rõ ràng, chiều kích quyền lực vốn có này của công nghệ luôn mang dấu ấn thế giới quan của những người phát minh và phát triển nó.

Điều này cũng áp dụng cho các chương trình trí tuệ nhân tạo. Muốn chúng trở thành khí cụ kiến tạo điều thiện và một tương lai tốt hơn, chúng cần luôn được nhắm tới thiện ích của mọi nhân vị, và phải mang “nguồn cảm hứng” luân lý.

Hơn nữa, một quyết định luân lý là quyết định xét đến không chỉ hậu quả của hành vi, mà còn các giá trị đang bị đặt vào thế rủi ro (values at stake) và các nghĩa vụ phát sinh từ các giá trị ấy. Vì thế, tôi đã chào mừng việc ký kết tại Rôma năm 2020  văn kiện “Rome Call for AI Ethics”.[13] Tôi cũng chào mừng sự cổ võ của văn kiện này đối với một hình thức điều tiết luân lý dành cho thuật toán và các chương trình AI, mà tôi gọi là “algor-ethics”.[14]

Trong bối cảnh đa nguyên và toàn cầu, nơi tồn tại những nhạy cảm khác nhau và nhiều hệ thứ bậc giá trị, việc tìm ra một hệ thứ bậc duy nhất của các giá trị có thể xem ra bất khả. Tuy vậy, trong phân tích luân lý, ta còn có thể vận dụng những công cụ khác. Nếu khó xác định một tập hợp giá trị toàn cầu duy nhất, ta vẫn có thể tìm ra các nguyên tắc được chia sẻ để đối diện và giải quyết những nan đề hoặc xung đột liên quan đến cách sống.

Đó là lý do “Rome Call” ra đời. Thuật ngữ “algor-ethics” tóm kết một chuỗi nguyên tắc thành một nền tảng toàn cầu và đa nguyên. Nền tảng ấy có thể quy tụ sự ủng hộ của các nền văn hóa, tôn giáo, các tổ chức quốc tế và các tập đoàn lớn, những bên đóng vai trò then chốt trong sự phát triển này.

NỀN CHÍNH TRỊ CẦN CÓ

Vì vậy, chúng ta không thể làm ngơ trước một nguy cơ rất thực, vốn nằm ngay trong cách trí tuệ nhân tạo được thiết kế. AI có thể thu hẹp thế giới quan của chúng ta vào những gì đo đếm được bằng con số và bị đóng khung trong các hạng mục có sẵn. Từ đó, nó gạt bỏ đóng góp của những kiểu “chân lý” khác và áp đặt các mô hình nhân học, kinh tế xã hội, văn hóa mang tính đồng loạt.

Theo đó, mô hình công nghệ thể hiện trong AI có thể trở thành một mô hình nguy hiểm hơn nhiều, điều tôi từng gọi là “mô hình kỹ trị” (technocratic paradigm).[15] Chúng ta không thể để một công cụ vừa mạnh mẽ vừa không thể thiếu như AI lại đi củng cố mô hình ấy. Trái lại, cần biến AI thành một “thành lũy” chống lại sự bành trướng của nó.

Chính ở đây, hành động chính trị trở nên cấp bách. Thông điệp Fratelli Tutti nhắc rằng “đối với nhiều người ngày nay, ‘chính trị’ là một từ gây khó chịu, thường vì những lỗi lầm, tham nhũng và sự kém hiệu quả của một số người làm chính trị. Người ta cũng tìm cách làm cho chính trị mất uy tín, thay nó bằng kinh tế, hoặc uốn nó theo một hệ tư tưởng nào đó. Nhưng thế giới có thể hoạt động mà không có chính trị không? Và liệu có thể có một tiến trình phát triển thực sự hiệu quả hướng tới tình huynh đệ phổ quát và hòa bình xã hội nếu không có một đời sống chính trị tốt đẹp không?”.[16]

Câu trả lời của chúng ta là không. Chính trị là điều cần thiết. Tôi muốn tái khẳng định lúc này rằng “trước nhiều dạng chính trị tiểu tiết chỉ tập trung vào lợi ích tức thời […] ‘quản trị quốc gia đích thực được thể hiện khi, trong những thời khắc khó khăn, chúng ta duy trì các nguyên tắc cao cả và hướng về công ích lâu dài. Các quyền lực chính trị không dễ đón nhận trách nhiệm này trong công cuộc kiến thiết quốc gia’ (Laudato Si’, số 178), càng khó hơn nữa trong việc kiến tạo một dự phóng chung cho gia đình nhân loại, cả trong hiện tại lẫn tương lai”.[17]

Kính thưa quý vị,

Những suy tư của tôi về tác động của trí tuệ nhân tạo trên nhân loại đưa chúng ta đến việc nhấn mạnh tầm quan trọng của “một đời sống chính trị lành mạnh”, để chúng ta có thể hướng về tương lai với hy vọng và sự vững tin. Tôi đã từng viết rằng “xã hội toàn cầu đang mắc phải những khiếm khuyết cơ cấu nghiêm trọng, không thể giải quyết bằng các giải pháp vụn vặt hay những biện pháp tình thế. Cần có những thay đổi sâu rộng qua cải tổ căn bản và canh tân lớn. Chỉ một nền chính trị lành mạnh, với sự tham dự của những lĩnh vực và năng lực đa dạng nhất, mới có thể giám sát tiến trình này. Một nền kinh tế như thành phần hữu cơ của một chương trình chính trị, xã hội, văn hóa và dân sinh hướng về thiện ích chung có thể mở lối cho ‘những khả thể khác, không dập tắt sức sáng tạo của con người và các lý tưởng tiến bộ, nhưng chuyển hướng năng lượng ấy theo những kênh mới’ (Laudato Si’, số 191)”.[18]

Đối với trí tuệ nhân tạo, tình hình cũng đúng như vậy. Việc sử dụng tốt là trách nhiệm của mọi người. Tuy nhiên, chính trị có trọng trách kiến tạo các điều kiện để việc sử dụng tốt ấy trở nên khả thi và sinh hoa trái.

Xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe.

Giáo Hoàng Phanxicô

----

Nguồn văn kiện: Participation of the Holy Father Francis at the G7 in Borgo Egnazia (Puglia) (14 June 2024)

Chuyển ngữ: Tu sĩ Lm. Phêrô Nguyễn Văn Dũng, OFM

Tải về bản văn (tại đây)

----

Các chú thích trong văn bản:

[1] Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 57, 01 tháng 01 năm 2024, số 1. 

[2] X. sđd. 

[3] X. sđd., số 2. 

[4] Tính hai mặt (ambivalence) này đã được Đức Giáo hoàng Thánh Phaolô VI ghi nhận trong Address to the Personnel of the “Centro Automazione Analisi Linguistica” of the Aloysianum, ngày 19 tháng 6 năm 1964. 

[5] X. A. GEHLEN, L’uomo. La sua natura e il suo posto nel mondo, Milan 1983, tr. 43. 

[6] X. Thông điệp Laudato Si’ (24 tháng 5 năm 2015), các số 102–114. 

[7] X. Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 57, 01 tháng 01 năm 2024, số 3. 

[8] Những trực giác/nhận định của Marshall McLuhan và John M. Culkin đặc biệt thích hợp để soi sáng các hệ quả của việc sử dụng trí tuệ nhân tạo. 

[9] X. Diễn văn ngỏ với những người tham dự Phiên Khoáng đại của Học viện Tòa Thánh về Sự sống, ngày 28 tháng 2 năm 2020. 

[10] X. Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 57, 01 tháng 01 năm 2024, số 4. 

[11] X. sđd., các số 3, 7. 

[12] X. Bộ Giáo lý Đức tin (Dicastery for the Doctrine of the Faith), Tuyên ngôn Dignitas Infinita về Phẩm giá Con người (02 tháng 4 năm 2024). 

[13] X. Diễn văn ngỏ với những người tham dự Phiên Khoáng đại của Học viện Tòa Thánh về Sự sống, ngày 28 tháng 2 năm 2020. 

[14] X. Diễn văn ngỏ với những người tham dự Đại hội về Phẩm giá Trẻ em trong Thế giới Kỹ thuật số, ngày 14 tháng 11 năm 2019; Diễn văn ngỏ với những người tham dự Phiên Khoáng đại của Học viện Tòa Thánh về Sự sống, ngày 28 tháng 2 năm 2020. 

[15] Để có lời giải thích rộng hơn, xin xem Thông điệp Laudato Si’ về việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta (on Care for Our Common Home), (24 tháng 5 năm 2015). 

[16] Thông điệp Fratelli Tutti về tình huynh đệ và tình bằng hữu xã hội (on Fraternity and Social Friendship), (03 tháng 10 năm 2020), số 176. 

[17] Sđd., số 178. 

[18] Sđd., số 179.

Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.

Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.