Mô hình Tổng quát của Gerbner
MÔ HÌNH TỔNG QUÁT CỦA GERBNER trong các Mô hình Truyền thông và Truyền thông Đại chúng
Dẫn nhập
Ông George Gerbner là một trong những người tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu truyền thông. Các công trình của ông có tính mô tả rõ ràng và dễ hiểu hơn nhiều công trình trước đó. Ông từng là giáo sư và trưởng khoa Annenberg School of Communications tại University of Pennsylvania. Năm 1956, Gerbner đã nỗ lực xây dựng một mô hình truyền thông mang tính khái quát. Trong công trình của mình, ông nhấn mạnh bản chất năng động của truyền thông, cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến độ tin cậy của tiến trình truyền thông.
(i) Chiều kích Tri giác
E là một sự kiện xảy ra trong đời sống thực. Nội dung hay thông điệp của sự kiện ấy được M, tức con người hoặc máy móc, tri giác. Sau khi M tri giác thông điệp từ E, thông điệp được nhận biết ấy được gọi là E1. E1 không hoàn toàn giống với E, vì không một con người hay máy móc nào có thể tri giác toàn bộ sự kiện. Họ chỉ tri giác được một phần của sự kiện, tức E1. Đây được gọi là “chiều kích tri giác” (perceptual dimension).
Có ba yếu tố liên quan giữa E và M:
Sự chọn lọc
Bối cảnh
Tính khả dụng
M, tức con người hoặc máy móc, không thể tri giác toàn bộ nội dung của sự kiện E. Vì thế, M chọn những nội dung được xem là thú vị hoặc cần thiết từ toàn bộ sự kiện, đồng thời lọc bỏ những nội dung khác. Bối cảnh là hoàn cảnh trong đó sự kiện xảy ra. Tính khả dụng tùy thuộc vào thái độ, tâm trạng, văn hóa và nhân cách của M.
Chẳng hạn, một nhà báo tri giác thông điệp từ một sự kiện theo cách riêng của mình. Nhà báo ấy không thể tập trung vào toàn bộ sự kiện, nên sẽ lọc bỏ những nội dung không mong muốn hoặc không liên quan. Nội dung đã được lọc này không hoàn toàn giống với nội dung thực tế của sự kiện, vì nhà báo chỉnh sửa nội dung dựa trên thái độ, tâm trạng, nền tảng văn hóa của mình, hoặc theo chính sách của cơ quan báo chí.
(ii) Chiều kích Phương tiện và Kiểm soát
E2 là nội dung sự kiện đã được M diễn đạt, trình bày hoặc tạo tác. Ở đây, M trở thành nguồn phát của một thông điệp về E để gửi đến người khác. M tạo ra một phát biểu hoặc các tín hiệu về thông điệp ấy. Gerbner gọi hình thức và nội dung của thông điệp này là SE2. Trong đó, S là tín hiệu hoặc hình thức mà thông điệp mang lấy, còn E2 là nội dung sự kiện theo nhận thức của con người. Nói cách khác, nội dung E2 được M cấu trúc hoặc định hình thành S, và nội dung ấy có thể được truyền thông theo nhiều cách khác nhau, hoặc theo những cách thức đã được cấu trúc.
M phải sử dụng các kênh hoặc phương tiện truyền thông để gửi đi thông điệp. Đối với các kênh ấy, M có mức độ kiểm soát nhiều hay ít khác nhau. Vấn đề “kiểm soát” liên quan đến mức độ kỹ năng của M trong việc sử dụng các kênh truyền thông. Nếu sử dụng kênh ngôn từ, M sử dụng ngôn ngữ tốt đến mức nào? Nếu sử dụng Internet, M thành thạo đến đâu trong việc sử dụng công nghệ mới và ngôn từ?
Tiến trình này có thể được mở rộng vô hạn bằng cách thêm vào những người tiếp nhận khác, chẳng hạn M2, M3, v.v. Những người này sẽ tiếp tục có những tri giác khác, chẳng hạn SE3, SE4, v.v., về các phát biểu liên quan đến những sự kiện đã được tri giác.
Lưu ý quan trọng
Thông điệp ở mọi cấp độ đều bị biến đổi hoặc thay đổi.
Ví dụ
Trong trường hợp tường thuật tin tức, E có thể là bất kỳ sự kiện nào đã xảy ra. Phóng viên, tức M, chọn một phần cụ thể của sự kiện, tức E1. Phần được chọn ấy có thể giúp kênh truyền thông của phóng viên đạt tỷ suất người xem cao hơn, hoặc tin tức ấy có thể góp phần nâng đỡ một đảng phái cụ thể mà kênh truyền thông đó ủng hộ.
SE2 này được gửi qua một phương tiện truyền thông đến công chúng đại chúng. Sau đó, công chúng tiếp tục phân phối thông điệp SE2. Một người tiếp nhận, tức M1, gửi thông điệp ấy cho bạn bè của mình kèm theo cách diễn giải riêng. Và tiến trình ấy tiếp tục diễn ra.
TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
Các lý thuyết và chủ đề liên quan trong truyền thông đại chúng bao gồm:
Lý thuyết thiết lập nghị trình
Mô hình truyền thông của Aristotle
Lý thuyết độc đoán
Lý thuyết thanh lọc cảm xúc trong truyền thông đại chúng
Mô hình truyền thông De Fleur
Truyền thông phát triển
Phân tích diễn ngôn: Quyền lực của ngôn ngữ truyền thông
Giáo dục giải trí
Đóng khung
Chức năng của truyền thông đại chúng
Lý thuyết gác cổng thông tin
Mô hình tổng quát của Gerbner
Các cộng đồng tưởng tượng của Benedict Anderson
Báo chí: Định nghĩa, các loại hình và ví dụ
Lý thuyết khoảng cách tri thức
Mô hình Lasswell
Lý thuyết tự do báo chí
Lý thuyết hiệu ứng giới hạn
Lý thuyết viên đạn thần kỳ hoặc kim tiêm dưới da trong truyền thông
Truyền thông đại chúng: Phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống và hiện đại
Lý thuyết ý nghĩa của sự trình hiện truyền thông
Dân chủ truyền thông
Lý thuyết phụ thuộc truyền thông
Lý thuyết bất mãn truyền thông
Lý thuyết độ phong phú truyền thông
Lý thuyết phương tiện
Lý thuyết quản lý tâm trạng
Lý thuyết dòng chảy truyền thông nhiều bước
Lý thuyết chuẩn mực: Bốn lý thuyết về báo chí
Lý thuyết trò chơi
Khơi gợi
Lý thuyết tiếp nhận
Mô hình truyền thông Riley & Riley
Lý thuyết trách nhiệm xã hội
Lý thuyết truyền thông Xô viết
Thuyết quyết định luận công nghệ
Lý thuyết vòng xoáy im lặng
Lý thuyết dòng chảy hai bước
Các loại lý thuyết truyền thông: Giải thích ngắn gọn
Các loại hình truyền thông đại chúng: Đặc điểm và ví dụ
Tìm hiểu truyền thông đại chúng và báo chí
Lý thuyết sử dụng và thỏa mãn
Mô hình truyền thông Westley và MacLean
Hội tụ truyền thông là gì: Các loại hình và ví dụ
Quản trị truyền thông là gì: Các loại hình và ví dụ
Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.
Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.