ISSN xxxx-xxxx (Online)
Top banner
Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su, trinh nữ, tiến sĩ Hội thánh (01/10) - Các thiên thần hộ thủ (02/10) - Kính trọng thể lễ Đức Mẹ Mân Côi (07/10)
Ngôn ngữ

Công nghệ thông tin tạo cơ hội giao thoa văn hóa

THTT-01
2024-01-29 19:15 UTC+7 87

GIAO THOA VĂN HÓA

Định nghĩa giao thoa văn hóa

Cơ hội

1. Không gian

2. Thời gian

3. Điều kiện kinh tế

4. Các chuẩn mực văn hóa và xã hội

5. Tư duy toàn cầu

Những thách đố

1. Tính liên kết không hữu hình (non-embodied interconnectedness)

2. Bất bình đẳng về quyền lực

3. Sự thống trị của “văn hóa mạng”

4. Sự nguy hiểm của tin giả mạo

5. Tác hại từ các thuật toán

Thúc đẩy giao thoa văn hóa trong thời đại kỹ thuật số

1. Kiến thức kỹ thuật số

2. Đối thoại liên tôn

3. Chống lại mô hình kỹ trị

Cơ hội

Sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) tạo nhiều cơ hội để hiện thực hóa mô hình giao thoa văn hóa, đặc biệt là khả năng loại bỏ nhiều rào cản truyền thống khiến cho những cuộc gặp gỡ không thể diễn ra. Vì sự gặp gỡ giữa con người với con người là điều không thể thiếu trong quá trình giao thoa, bất kể yếu tố gì giúp thúc đẩy sự gặp gỡ đều được xem như là đóng góp làm cho mô hình được hiện thực hóa nhanh chóng hơn. Sau đây chúng ta xem qua một số rào cản mà CNTT-TT giúp loại bỏ:

1. Không gian

 Vấn đề giao thoa giữa các nền văn hóa không còn bị cản trở bởi khoảng cách vật lý giữa người này với người kia. Dù ở các thành phố, quốc gia hay lục địa khác nhau, mọi người đều có thể dễ dàng kết nối với nhau nhờ sự trợ giúp của CNTT-TT. Tính đến tháng 1 năm 2020, 59 phần trăm dân số thế giới (4,54 tỷ người) đã tiếp cận được với internet.[1] Mặc dù vẫn còn vài quốc gia như Triều Tiên, internet không được sử dụng rộng rãi trong dân chúng, nhưng hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới đều có kết nối internet ở nhiều mức độ khác nhau. Vì vậy, ngày nay, mặc dù nhiều người vì lý do nào đó không thể ra khỏi tỉnh, thành phố hoặc quốc gia của mình, thậm chí không thể ra khỏi nhà, nhưng điều này không ngăn cản họ kết nối với gia đình, bạn bè và ngay cả những người hoàn toàn xa lạ từ các quốc gia khác trên thế giới. Nhiều trẻ em sinh ra trong kỷ nguyên kỹ thuật số đã biết giao tiếp với những người ở xa nửa vòng trái đất trước khi chúng đi được những bước đầu tiên. 

Một phần công việc của Trung tâm Nghiên cứu Á châu về Tôn giáo và Truyền thông Xã hội (Asian Research Center for Religion and Social Communication, ARC, Đại học St. John’s - Thái Lan), nơi tôi đang làm giám đốc điều hành, là tổ chức các hội nghị quốc tế bàn tròn thường niên. Một trong những hội nghị gần đây của chúng tôi đã diễn ra vào ngày 9-12 tháng 3 năm 2020 tại Đại học St. Louis, Bangkok, Thái Lan. Tuy nhiên, trước khi hội nghị được diễn ra, đại dịch Covid-19 đã bắt đầu bùng phát ở nhiều quốc gia. Tại Thái Lan, vào những ngày đầu tháng 3, diễn biến phức tạp của dịch bệnh cũng đang leo thang khiến cho dư luận xôn xao và người dân trở nên hoang mang.

Trước tình trạng ngày càng thêm nghiêm trọng, một số học giả tham gia hội nghị từ các quốc gia, trong đó có Ấn Độ, Philippines và Đài Loan v.v đã phải hủy bỏ những vé máy bay đã đặt sẵn đến Thái Lan tham dự chương trình, trong đó một số trường hợp vì các nước bắt đầu ban hành các hạn chế về xuất nhập cảnh. May mắn thay là một số ít tham dự viên vẫn có thể thực hiện chuyến đi, trong khi một số khác đã có mặt ở trong nước.

Sau nhiều cuộc thảo luận với hội đồng quản trị của Trung tâm Nghiên cứu và ban lãnh đạo của trường Đại học St. Louis, chúng tôi quyết định tiến hành hội nghị bàn tròn theo kế hoạch đã định. Những người không thể trực tiếp đến Bangkok đã được tạo điều kiện thuyết trình trực tuyến thông qua ứng dụng Google Meet. Kết quả là, chúng tôi đã có một hội nghị “hybrid” trong đó một nửa số thành viên tham dự thuyết trình trực tiếp các bài báo cáo của họ, trong khi nửa còn lại tham gia và trình bày trực tuyến thông qua Google Meet. Những gì đã xảy ra trong chương trình hội nghị của ARC như một lời tiên báo về thực trạng của thế giới trong suốt thời gian đại dịch Covid-19 diễn ra trên khắp thế giới.

Trong thời đại dịch, hầu như ‘trực tuyến’ là lựa chọn ưu tiên, nếu không phải là bắt buộc, cho nhiều hội nghị và sự kiện diễn ra vì đa số các quốc gia hoàn toàn đóng các cửa khẩu đường không cũng như đường bộ. “Hội thảo trên web” (Webinar) qua các nền tảng Zoom và Google Meet đã trở thành thuật ngữ quen thuộc dùng để chỉ các chương trình tọa đàm và hội nghị diễn ra trong không gian mạng. Vì vậy, mặc dù bị chia cắt về mặt vật lý do đại dịch, các cuộc thảo luận và gặp gỡ vẫn tiếp tục diễn ra nhờ sự trợ giúp của CNTT-TT. Dĩ nhiên, người ta không chỉ hội thảo trên mạng mà còn tổ chức vố số sinh hoạt khác theo hình thức trực tuyến như dạy học, họp giao ban trong các tổ chức và công ty, tổ chức các chương trình ca nhạc hoặc giao lưu bạn bè. Về phía Giáo hội thì tổ chức các Thánh Lễ, các lớp học giáo lý, giờ cầu nguyện, tĩnh tâm, học hỏi Kinh Thánh… trên mạng cho người giáo dân có thể “tham dự”.

2. Thời gian

Một mạng internet tốt, ổn định có thể hoạt động 24 trên 24. Vì thế cho dù chúng ta ở bất cứ múi giờ nào thì chúng ta cũng vẫn có thể kết nối với nhau và gặp gỡ nhau qua các diễn đàn trực tuyến, cũng như qua các ứng dụng voice chat hoặc video chat. Với tốc độ mạng internet ngày càng nhanh và ổn định trên khắp thế giới, nối kết và nhận được các thông tin từ nhau có thể được thực hiện gần như ngay lập tức. Nếu như trước đây, chúng ta phải chờ nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần để nhận được một lá thư từ người thân ở nước ngoài, thì ngày nay việc các thành viên trong gia đình liên lạc với nhau qua các thiết bị được kết nối internet như điện thoại thông minh, đồng hồ thông minh hay ipad, v.v. có thể diễn ra tức thì. Bởi vì nhiều người không chỉ sử dụng một mà nhiều thiết bị điện tử có kết nối internet, nên ngày nay không dễ gì để chúng ta vô tình “bỏ lỡ” các cuộc gọi hay tin nhắn, ngoại trừ chúng ta cố tình thấy tin nhắn đến mà không mở ra đọc hay thấy cuộc gọi vào mà không bắt máy. Có người vì không muốn bị quấy rầy nên đành phải hoàn toàn tắt nguồn internet để tìm cho mình sự bình yên. Vì thế, các thông tin liên lạc có thể được thực hiện gần như ngay lập tức trong hầu hết mọi trường hợp ở mọi nơi và các email hoặc tin nhắn ‘thất lạc’ thường có thể tìm lại được nếu chúng chưa hoàn toàn bị xóa khỏi bộ nhớ của thiết bị.

Có thể thấy rằng giảm thiểu rào cản về thời gian tạo điều kiện thuận lợi cho mô hình giao thoa văn hóa, đặc biệt là khi những người sinh sống cách nhau hàng ngàn cây số có thể kết nối với nhau bất kể giờ nào một cách nhanh chóng. Những sự kiện văn hóa đang diễn ra ở một nơi nào đó có thể được live stream và xem trực tiếp bởi những người từ một nền văn hóa khác. Sự tương tác với nhau có thể thực hiện qua phần bình luận mà các nền tảng phát trực tuyến thường tạo nên cho người dùng. Nếu biết tận dụng những công nghệ này, nhiều cuộc gặp gỡ thú vị với những người từ khắp nơi trên thế giới có thể được thực hiện ngay từ nơi ở của mình.

3. Điều kiện kinh tế

Trước đây, để thực hiện một chuyến đi ra khỏi quê hương hoặc đất nước đòi hỏi một khoản đầu tư lớn về thời gian và tiền bạc đối với rất nhiều người trên thế giới. Tuy nhiên, nhờ vào sự tân tiến và sẵn có của CNTT-TT mà ngày nay, ngay cả ở những vùng xa xôi hẻo lánh trên trái đất, chúng ta vẫn có vô số cơ hội để tiếp xúc và học hỏi về các nền văn hóa khác mà không cần phải rời khỏi ngôi nhà của mình. Chi phí cho các thiết bị CNTT-TT giảm đáng kể trong những năm gần đây cũng giúp tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thoa giữa các nền văn hóa. Ở nhiều nước đang phát triển, tỷ lệ người kết nối internet còn cao hơn tốc độ đô thị hóa. Đông Nam Á là một trường hợp điển hình. Sau khi Thomas Edison phát minh ra bóng đèn điện vào năm 1879, một số đường phố ở thành phố New York bắt đầu tận hưởng thành quả của công nghệ mới này vào năm 1882 khi trạm phát trung tâm quy mô lớn đầu tiên được lắp đặt trên phố Pearl cho 85 khách hàng. Sau phát minh vĩ đại này, đất nước Mỹ tiếp tục trải qua những phát minh công nghệ to lớn khác như xe ô-tô chạy bằng xăng (1892), máy bay (1903), truyền hình (1927), bom nguyên tử (1945), máy tính mini (1965), phi thuyền (1981) và nhiều tiến bộ công nghệ khác… Nhưng mãi 115 năm sau khi người Mỹ có bóng đèn điện thì họ mới có thể truy cập internet thông qua trình duyệt web Netscape Navigator là công cụ duyệt web đầu tiên được sử dụng cho mục đích thương mại, phát hành đại trào vào năm 1994. Tất nhiên, công nghệ internet đã được phát triển trong nhiều thập kỷ, nhưng phải đến năm 1994, công nghệ này mới thực sự được phổ biến rộng rãi tại các nước phát triển và sau đó lan truyền qua các quốc gia khác.

Việt Nam được hòa mạng vào năm 1997,[2] một năm sau Thái Lan.[3] Vì sự phát triển về mặt công nghệ diễn ra nhanh chóng tại Hoa Kỳ nên đến năm 1920 thì quốc gia này đã đạt được mức độ đô thị hóa 50%.[4] Nếu so với Hoa Kỳ, Đông Nam Á có tốc độ phát triển công nghệ chậm hơn rất nhiều. Ở một số vùng cao nguyên hẻo lánh và hải đảo ở khu vực này, điện dân dụng vẫn chưa thực sự phổ biến. Người dân nhiều nơi vẫn sử dụng củi để đun nấu và đi lại trên các con đường đất. Ở các vùng núi, nhiều người dân phải băng qua sông trên những chiếc cầu dã chiến, thậm chí phải đu dây qua sông để đi chợ, đi học. Trên thực tế, vùng Đông Nam Á được ước tính chỉ đạt được mức đô thị hóa 50% vào năm 2019 – 99 năm sau Hoa Kỳ.[5]

Bất chấp sự khác biệt lớn về lịch sử phát triển công nghệ giữa Hoa Kỳ và Đông Nam Á, khu vực này đang nhanh chóng theo sau để phát triển trong lĩnh vực kỹ thuật số. Với tổng số dân gần 700 triệu người tính đến tháng 8 năm 2020,[6] Đông Nam Á là khu vực địa lý đông dân thứ ba trên thế giới chỉ sau Nam Á và Đông Á. Mặc dù đô thị hóa ở Đông Nam Á chỉ đạt khoảng 50%, nhưng trên thực tế, tỷ lệ sử dụng internet đã đạt gần 66% vào đầu năm 2020[7] với mức tăng trưởng hai con số ở hầu hết các tầng lớp và hầu hết các quốc gia trong khu vực.[8] Brunei là nước dẫn đầu khu vực về tỷ lệ sử dụng internet với 95%.[9] Tuy nhiên, sự phát triển kỹ thuật số trong khu vực vẫn chưa thực sự đồng đều. Trong khi tỷ lệ sử dụng internet cao hơn mức trung bình toàn cầu (57%), một số quốc gia trong khu vực lại thấp hơn khá xa so với mức này, cụ thể như Đông Timor,[10] Myanmar[11] và Lào[12] ở mức tương ứng 39%, 41% và 43%. Dù sao, tốc độ tăng trưởng trong việc kết nối internet trên toàn khu vực là khá cao, khiến cho Đông Nam Á được ước tính là thị trường lớn thứ ba trên toàn cầu. Theo các chuyên gia, nền kinh tế internet của khu vực dự kiến ​​sẽ đạt 300 tỷ USD vào năm 2025.[13]

4. Các chuẩn mực văn hóa và xã hội

Trong môi trường vật lý, con người thường bị giới hạn bởi các chuẩn mực văn hóa và xã hội chi phối những người mà họ có thể gặp gỡ và trao đổi. Ở một số nền văn hóa, những điều cấm kỵ khi giao tiếp, trò chuyện hoặc ở gần một người không cùng nền văn hóa, tôn giáo, giới tính, hoặc giai cấp xã hội được thực thi cách nghiêm ngặt. Tại trường đại học Jeppiar tại Chennai, Tamil Nadu, Ấn Độ, các sinh viên nam và nữ bị cấm giao tiếp với nhau dường như tuyệt đối.[14] Trong trường còn có những nhóm đàn ông được giao trách nhiệm theo dõi để xử lý những trường hợp vi phạm. Quy định cấm giao tiếp giữa các sinh viên nam nữ không chỉ xảy ra ở một vài nơi mà ở rất nhiều các trường đại học tại Ấn Độ. Có trường buộc sinh viên nam nữ phải đi các lối và cầu thang khác nhau. Các vi phạm, đặc biệt là vi phạm nói chuyện với người khác giới dẫn đến bị kỷ luật nặng nề từ ban lãnh đạo nhà trường.

Ngoài vấn đề giới tính, người ta còn bị buộc phải giữ khoảng cách vì các lý do khác. Cũng tại Ấn Độ, các bé gái và phụ nữ thuộc các nhóm dân tộc Gond và Madiya khi trải qua kỳ kinh nguyệt bị buộc phải ở trong những túp lều bên ngoài ngôi làng trong 5 ngày để khiến họ không thể tiếp xúc với những người xung quanh.[15] Việc bị đày trong những túp lều tồi tàn ở bìa rừng và tiếp xúc với thời tiết xấu cũng như động vật nguy hiểm là những trải nghiệm gây không ít tổn thương cho người phụ nữ thuộc văn hóa này. Sự xa cách xã hội do các hủ tục cực đoan, như bị trục xuất trong thời kỳ kinh nguyệt hoặc các quy tắc chi phối cách mọi người thuộc các giới tính và tầng lớp kinh tế - xã hội khác nhau tương tác ở nơi công cộng, có thể được khắc phục phần nào với sự trợ giúp của CNTT-TT. Môi trường kỹ thuật số loại bỏ các trở ngại này vì việc sử dụng CNTT-TT của một người có thể được thực hiện trong không gian riêng tư, tránh được sự chú ý của những con mắt tò mò cũng như sự kiểm soát của những cá nhân hoặc tổ chức có quyền lực. Đối với nhiều người trên thế giới, điện thoại di động thường được cài đặt sẵn các ứng dụng mạng xã hội để có thể dễ dàng kết nối trực tuyến với người khác. Có không ít người mặc dù không biết cách gửi và nhận thư điện tử (email), nhưng họ vẫn sử dụng thành thạo các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube và Zalo. Điển hình tại Myanmar, từ ‘Facebook’ được người dân sử dụng như từ đồng nghĩa với internet vì tất cả những nơi bán điện thoại đều đã cài sẵn nền tảng này cho khách hàng, cũng như hướng dẫn khách hàng cách tạo tài khoản và sử dụng nếu họ chưa có tài khoản.

5. Tư duy toàn cầu

Tư duy toàn cầu có thể được hiểu như là khả năng để nhận thức, cảm nhận, và thích ứng với những vấn đề xảy ra ở cấp độ toàn cầu, không bị gò bó bởi những định kiến thiếu căn cứ và những kiến thức dựa trên kinh nghiệm hạn hẹp của cá nhân. Một người có lối tư duy toàn cầu, đặc biệt là một người đóng vai trò lãnh đạo có khả năng đọc ra và thích ứng với những khác biệt văn hóa nhằm tương tác với người khác cách hài hòa và hiệu quả. Theo Gary Ranker, tác giả của cuốn sách Global Mindset, một người có tư duy toàn cầu sẽ hội tụ những tính chất: 1) Cởi mở để học hỏi; 2) Biết thích nghi với văn hóa mới; 3) Biết ứng xử với các văn hóa khác; 4) Hiểu rằng không có một cách duy nhất là đúng; 5) Thích tìm tòi nhiều điều thú vị; 6) Biết tận dụng sự đa dạng cách chủ động; và 7) Không bị hạn chế bởi tính địa phương.[16] Có thể thấy được từ định nghĩa trên, yếu tố văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy toàn cầu. Đặc biệt, chúng ta phải sẵn sàng loại bỏ những lối suy nghĩ vị chủng, cục bộ, và khép kín đối với các nền văn hóa khác. Ngoài ra, chúng ta phải dám mạo hiểm để tìm kiếm, học hỏi và thích ứng với những điều mới lạ ở nơi các nền văn hóa mà chúng ta trải nghiệm. Chỉ như vậy chúng ta mới có thể nối kết với những người không cùng phong tục tập quán, ý thức hệ và truyền thống với mình.

Sự phát triển về công nghệ kỹ thuật số có khả năng thúc đẩy sự hình thành tư duy toàn cầu nhanh chóng và hiệu quả hơn. Trong bối cảnh mới, chúng ta không chỉ là công dân của một quốc gia, hay là thành viên của một bộ tộc, hay tín đồ của một tôn giáo, mà chúng ta có cơ hội để trở nên công dân toàn cầu (world citizen), thành viên trong gia đình nhân loại. Cho dù chúng ta sống ở đâu trên thế giới, chúng ta đều có thể tiếp cận được với những thông tin liên quan không chỉ đến chính mình mà còn đến các thành phần khác trong gia đình nhân loại. Thiên tai, chiến tranh, đại dịch không chỉ là vấn đề của ai đó, hay nhóm người nào đó, mà là vấn đề của chính chúng ta trong một thế giới được kết nối chặt chẽ với nhau.

 Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, với sự hỗ trợ của CNTT-TT, chúng ta biết nhiều hơn về thế giới mà chúng ta đang sống, đồng thời có khả năng để quan tâm về những vấn đề không chỉ ở cấp độ địa phương mà còn ở cấp độ toàn cầu. Một bạn trẻ như Greta Thunberg, người Thụy Điển có thể đấu tranh vì môi trường sinh thái không phải chỉ vì sự hủy hoại môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn ấy ở Thụy Điển, vốn là một đất nước phát triển, nhưng vì khủng hoảng môi trường là vấn đề ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại, đặc biệt các thế hệ mai sau. Tư duy toàn cần được hỗ trợ bởi CNTT-TT khiến cho một người ở Myanmar không nhất thiết phải tận mắt thấy rừng Amazon để biết rằng khu rừng đó đang bị tàn phá do nạn khai thác gỗ và chăn nuôi gia súc. Một người dân tận Zimbabwe cũng có thể dễ dàng hiểu được mức độ làm tổn hại đến môi trường của Trung Quốc vì các nhà xưởng và con đập khổng lồ của họ mà không cần đặt chân đến Đại lục. CNTT-TT tạo điều kiện cho mọi người trở thành những công dân toàn cầu và có ý thức về trái đất là ngôi nhà chung mà mỗi thành viên cần chăm sóc ngôi nhà ấy cách tận tình.

Ngoài vấn đề khủng hoảng môi trường, các vấn đề khác như chiến tranh, bạo lực, di dân, tị nạn, sự bất công… mang chiều kích toàn cầu đều có thể được chúng ta nhận thức một cách đầy đủ và rõ ràng hơn qua nhiều nguồn thông tin mà chúng ta có thể tiếp cận được nếu chúng ta chỉ cần bỏ ra một ít thời giờ để tìm hiểu về các vấn đề một cách nghiêm túc. Trong đại dịch Covid-19, có thể nói chưa bao giờ nhân loại trải qua một cơn đại dịch mà chúng ta có thể hiểu được tường tận hậu quả của nó đối với nhân loại ở khắp năm châu như trong cơn khủng hoảng này, giúp chúng ta không chỉ nắm rõ các chiều kích của vấn đề mà còn có cơ hội để thể hiện sự tương thân tương trợ lẫn nhau để cùng nhau vượt qua những khó khăn của đại dịch.

[1] Statista, https://www.statista.com/statistics/617136/digital-population-worldwide/

[2] Wikipedia, “Internet tại Việt Nam.”

[3] https://en.wikipedia.org/wiki/Internet_in_Thailand

[4] US Census, “Urban and Rural Areas,” https://www.census.gov/history/www/programs/geography/urban_and_rural_areas.

[5] Bharat Dahiya, “Southeast Asia and Sustainable Urbanization,” Global Asia, https://www.globalasia.org/v9no3/feature/southeast-asia-and-sustainable-urbanization_bharat-dahiya.

[6] “Southeast Asian Population,” Worldometers, http://www.worldometers.info/world-population/south-eastern-asia-population/

[7] We Are Social, 01/2020, https://wearesocial.com/blog/2020/01/digital-2020-3-8-billion-people-use-social-media

[8] Atzlan Othman, “Facebook most popular social mediate platform in the Sultanate,” Borneo Bulletin (19/5/ 2018), https://borneobulletin.com.bn/facebook-most-popular-social-media-platform-in-the-sultanate/.

[9] “Digital 2020: Brunei,” (18/02/2020), https://datareportal.com/reports/digital-2020-brunei-darussalam.

[10] “Digital 2020: Timor Leste,” Datareportal (18/02/2020), https://datareportal.com/reports/digital-2020-timor-leste

[11] “Digital 2020: Myanmar,” Datareportal (18/02/2020), https://datareportal.com/reports/digital-2020-myanmar

[12] “Digital 2020: Laos,” Datareportal (18/02/2020), https://datareportal.com/reports/digital-2020-laos

[13] “Southeast Asia’s internet economy to hit $300 billion by 2025: report,” Reuters (3/10/2019), https://www.reuters.com/article/us-southeast-asia-internet/southeast-asias-internet-economy-to-hit-100-billion-this-year-report.

[14] Vesudha Venugopal and Lavanya M. “Where boys and girls don’t talk to each other,” The Hindu (24/6/2016), https://www.thehindu.com/news/cities/chennai/where-boys-and-girls-dont-talk-to-each-other/article3321558.ece

[15] “Banished for menstruating: the Indian women isolated while they bleed,” The Guardian (22/12/2015), https://www.theguardian.com/global-development/2015/dec/22/india-menstruation-periods-gaokor-women-isolated

[16] “Global Mindset Definition: What It Really Means,” Global Mindset Strategies Group, https://www.garyranker.com/global-mindset/global-mindset-leadership-what-it-really-means/