NHÂN HỌC THẦN HỌC TRƯỚC TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
NHÂN HỌC THẦN HỌC TRƯỚC TRÍ TUỆ NHÂN TẠO.
Khảo sát một giao điểm qua các văn kiện chuyên đề
Tác giả: Judith Klaiber
Nguồn bài viết: Judith Klaiber, “Theological Anthropology Facing Artificial Intelligence. The Investigation of an Intersection Based on Treatises,” Interdisciplinary Journal for Religion and Transformation in Contemporary Society 1, no. aop (2024): 1-26.
Chuyển ngữ: Tu sĩ Lm. Phêrô Nguyễn Văn Dũng, OFM
Lời giới thiệu của dịch giả: Bản dịch này được thực hiện trong bối cảnh các cuộc thảo luận về Trí tuệ nhân tạo ngày càng đặt ra những câu hỏi nền tảng cho thần học, triết học và nhân học. Bài viết của Judith Klaiber có giá trị đặc biệt vì cho thấy nhiều diễn ngôn định chế về AI, dù quan tâm đến quyền riêng tư, minh bạch, trách nhiệm và an toàn, vẫn còn thiếu một nền nhân học đủ sâu. Trong khi con người thường được nhìn như người dùng, chủ sở hữu dữ liệu, chủ thể pháp lý hoặc nạn nhân tiềm năng, Nhân học thần học Công giáo được mời gọi tái khẳng định con người như một ngôi vị có thân xác, hữu hạn, tương quan, dễ bị tổn thương và mở ra với Thiên Chúa. Chính trong viễn tượng ấy, bài viết này góp phần quan trọng vào việc suy tư về phẩm giá con người, tính thân xác, tự do và mầu nhiệm con người trong thời đại kỹ thuật số.
TÓM TẮT
Trước tính chất mới mẻ của vấn đề, bài nghiên cứu này đặt Trí tuệ nhân tạo và Nhân học thần học vào một cuộc đối thoại đối chiếu mang tính sáng tạo. Trọng tâm của cuộc đối thoại ấy là những ý niệm đang nổi lên về sự hoàn hảo, ơn cứu độ, tâm trí và tính thân xác, đặc biệt khi các ý niệm này được đặt trong tương quan với ý nghĩa nguyên ngữ của theos và logos.
Vì mục đích đó, bài viết trước hết đặt hai lĩnh vực nghiên cứu này vào một khung lý thuyết, giới thiệu chúng cách hệ thống và phân loại chúng trong bối cảnh lịch sử. Đáng chú ý, cả hai lĩnh vực này đều trở nên đặc biệt nổi bật gần như cùng một thời điểm, vào khoảng thập niên 1960. Sau đó, bài viết thực hiện một thẩm định mang tính phê bình văn bản dựa trên các ấn phẩm hiện hành của một số định chế châu Âu về Trí tuệ nhân tạo. Việc thẩm định này đặc biệt chú ý đến các khái niệm, hình ảnh biểu trưng và lối diễn ngôn về con người, về der Mensch, tức hữu thể người, như một thực tại vượt quá các mạng nơ-ron.
Những điểm tương đồng, các thách đố phát sinh từ việc đặt hai lĩnh vực này cạnh nhau, cũng như những hiệp lực được khám phá, không chỉ góp phần quan trọng vào việc tái đọc một cách bền vững các quan niệm về con người. Hơn nữa, chúng còn đem lại những hiểu biết cần thiết về vị trí của công nghệ mới này trong các diễn ngôn đạo đức liên quan đến phẩm giá con người, nhân quyền, cũng như trong các tranh luận triết học về tự do.
Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo; quan niệm về nhân loại; Nhân học thần học.
1. DẪN NHẬP1
Cuối tháng 11 năm 2022, OpenAI2 ra mắt ChatGPT, một mô hình ngôn ngữ lớn. Công cụ này cho thấy, theo một cách hết sức đáng chú ý, khả năng tương tác giữa máy móc và Mensch, tức con người; hoặc ít nhất, khả năng mô phỏng một cuộc đối thoại mang dáng vẻ con người.3
Vì mục đích của bài viết này, ChatGPT đã được hỏi: “Con người là gì?” Câu trả lời nhận được như sau: Con người là một thành viên của loài Homo sapiens, loài duy nhất còn tồn tại thuộc chi Homo. Con người được đặc trưng bởi bộ não phát triển cao, có khả năng tư duy trừu tượng, ngôn ngữ, nội quan và giải quyết vấn đề. [Nội quan: tức khả năng quay vào bên trong để nhận biết và suy tư về chính mình] Con người cũng có khả năng tạo ra và sử dụng công cụ, đồng thời có thể thao tác trên môi trường và thích nghi với môi trường để đáp ứng các nhu cầu của mình. Con người cũng là động vật xã hội, đã phát triển những xã hội và nền văn hóa phức tạp.4
Trong câu trả lời này, ChatGPT không chỉ quy chiếu đến chiều kích sinh học của giống loài, mà còn đưa ra một cách giải thích về nét đặc thù của con người so với các “động vật” khác. Nét đặc thù ấy được đặt trên nhận định rằng con người có một “bộ não phát triển cao”, có khả năng linh hoạt, thích nghi, sử dụng ngôn ngữ và suy tư lý tính. Khái niệm nội quan cũng được gợi nhắc cách ngắn gọn. Dường như đây được xem là một trong những nét độc đáo làm nên tính đặc thù của con người.
Nếu xét đến gợi ý của ChatGPT rằng con người có khả năng thích nghi với những môi trường luôn biến đổi, thì có thể nói rằng chính sự bất toàn lại là một phẩm tính vừa nghịch lý vừa đầy thách đố của con người: “Sự phát triển kỹ thuật số buộc các Kitô hữu phải tái suy tư một cách căn bản về điều họ tin: rằng họ là những hữu thể bất toàn và tội lỗi, nhưng đồng thời cũng là hình ảnh và họa ảnh của một Thiên Chúa hoàn hảo và cứu độ.”5
Đây là một nhận định rất đáng suy nghĩ. Nếu các hệ thống Trí tuệ nhân tạo6, chẳng hạn như ChatGPT, được nhận thức hóa, thích nghi hóa và thậm chí nhân hóa, thì cần đặt ra câu hỏi: phải chăng thách đố còn lại đối với con người7 là “đừng trở thành rô-bốt”?8
Vấn đề cần được khảo sát ở đây là liệu ranh giới lưỡng cực giữa con người và máy móc có còn ổn định hay không. Những đổi mới kỹ thuật đang diễn ra, đặc biệt là Trí tuệ nhân tạo, sau đây viết tắt là AI, dường như đang chạm đến, thậm chí có thể làm dịch chuyển, một ranh giới vốn từng được xem là bất khả đảo ngược. Diễn ngôn ngày càng gia tăng về các hệ thống AI và kỹ thuật của chúng9 có khả năng thách thức cách chúng ta suy nghĩ, hành động, làm việc và cảm nhận. Do đó, AI cũng thách thức cách chúng ta hiểu thế nào là làm người theo một cách căn bản và mang tính đột phá. Chính vì vậy, AI làm cho những vấn đề cổ điển trong tư duy triết học và thần học trở nên gay gắt hơn.
Bài viết này cố gắng đối diện với cuộc “tái suy tư căn bản” đầy thách đố ấy. Vì thế, bài viết được đặt trong hai bình diện tranh luận.
Trước hết, đây là một diễn ngôn nội tại của thần học Kitô giáo về Nhân học thần học, về các truyền thống, hình thức và sự phát triển của ngành này.
Kế đến, đây cũng là một diễn ngôn công cộng và khoa học về Trí tuệ nhân tạo, về sự mơ hồ trong thuật ngữ cũng như về những cuộc tương tác mới giữa con người và máy móc do AI mở ra.
Trên nền tảng những vấn đề phản tư căn bản liên quan đến bản chất và sự xác định nhân loại, trọng tâm của bài viết là khảo sát các quan niệm nhân học hiện diện trong lĩnh vực AI, đặc biệt dưới ánh sáng của những khoảng trống nghiên cứu hiện nay. Một chủ đề quan trọng trong hướng khảo sát này là viễn tượng thực nghiệm về con người như những “tài liệu sống”10, cùng với nỗ lực làm nổi bật chính những kinh nghiệm sống ấy. Điều này phù hợp với Hiến chế Mục vụ của Công đồng Vatican II11, vốn mở đầu bằng định hướng căn bản: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người thời nay, nhất là của những người nghèo và bất cứ ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Đức Kitô. Thật vậy, không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ.”12
Cách tiếp cận rộng hơn của bài viết là khảo sát các quan niệm về nhân loại trong AI, đặc biệt là những ý niệm đang nổi lên về sự hoàn hảo, ơn cứu độ, tâm trí và tính thân xác. Những ý niệm này được đặt trong tương quan với ý nghĩa nguyên ngữ của theos và logos, và xa hơn nữa, với những thuộc tính từng được xem là của Thiên Chúa, như toàn năng, toàn tri và hiện diện khắp nơi.13
Một nhận định về nhân loại, vốn trong tư duy châu Âu gắn liền cách thiết yếu với phẩm giá con người và nhân quyền, được Ủy ban Điều tra về AI của Quốc hội Đức nêu lên như sau. Nhận định này cung cấp một chủ đề quan trọng cho bài viết: Trong bối cảnh Trí tuệ nhân tạo, điều này có thể có nghĩa là: con người nhìn thấy nơi một số hệ thống AI mang dáng vẻ nhân hình một sự tương đồng nào đó, nhưng đồng thời cũng nhận ra rõ ràng sự khác biệt nền tảng giữa con người và các hệ thống ấy. Chính nhờ sự phân biệt này, ý thức về tính khác biệt có thể được gia tăng. Khi đối diện với các hệ thống AI, con người không nhìn chính mình đơn thuần như một “mạng nơ-ron”, cũng không như một cỗ máy tự trị có khả năng học hỏi. Con người không hiểu chính mình như một hệ thống hay như một cỗ máy tầm thường có thể và cần phải được tối ưu hóa nhờ một loại dữ liệu đầu vào nào đó. Điều đáng ước mong là một thế giới và một xã hội trong đó con người không hoàn toàn tan biến vào thứ công nghệ do chính mình tạo ra. Vì thế, thuật ngữ “làm người”, hay hình ảnh về nhân loại, có thể trở thành một hiệu chỉnh đạo đức cho một viễn tượng như thế.14
Khi khảo sát các chuyên luận hiện hành về AI trong phần thứ hai của bài viết, chẳng hạn các văn kiện của Nhóm Chuyên gia Cấp cao thuộc Ủy ban châu Âu, có thể nhận thấy một sự đánh giá thấp đối với các quan niệm về con người. Đồng thời, cũng có thể nhận ra sự ưu thế của một quan niệm về con người mang tính duy vật và tất định.15 Vì vậy, đóng góp của bài viết này là tiếp cận diễn ngôn và nghiên cứu về AI bằng một thông diễn học của sự nghi ngờ.
2. KHUNG LÝ THUYẾT
Từ đầu thập niên 1960, lĩnh vực nghiên cứu về Trí tuệ nhân tạo trong khoa học máy tính đã trở nên sôi động. Gần như cùng thời điểm đó, Giáo hội Công giáo Rôma cũng bước vào một cuộc chuyển mình sâu rộng, có thể được ví như một cuộc cách mạng Copernic16, đồng thời việc phản tư khoa học về đức tin, tức thần học Kitô giáo, cũng có những biến chuyển đáng kể. Tại Công đồng Vatican II, nơi mối tương quan giữa Thiên Chúa, thế giới hiện đại và Giáo hội được đem ra bàn thảo, viễn tượng lấy con người làm trung tâm đã chiếm một vị trí quan trọng.
Từ sau khúc quanh nhân học17, nền thông diễn học triết học và thần học đã khảo sát những tiềm năng cũng như những điều kiện nền tảng được trao ban cho khả năng nhận thức, tư duy và hành động của con người. Từ viễn tượng thần học, vấn đề còn là các tiềm năng và điều kiện ấy liên hệ thế nào với việc suy tư về Thiên Chúa. Qua lịch sử tiếp nhận và ảnh hưởng của công trình thần học Karl Rahner, cũng như của phong trào thần học mới tại Pháp, tức nouvelle théologie, các vấn đề nhân học ngày càng trở nên trung tâm trong suy tư về Giáo hội trong thế giới hiện đại.
Trong số những điều khác, cách Giáo hội hiện diện và tự thể hiện trong hiện tại được hiểu như một hình thức trung gian của ơn cứu độ hướng đến con người. Vì thế, điều này tùy thuộc cách thiết yếu vào việc con người là gì, con người phải được hiểu ra sao, và con người quy hướng đời mình về đâu.18 Đồng thời, “vấn đề về tính được kiến tạo của con người”19 trở nên sắc nét hơn qua các câu hỏi liên quan đến tương quan thân xác và thể lý của con người với chính mình và với thế giới. Vấn đề ấy cũng được làm rõ hơn qua khả năng phát triển sáng tạo, nhất là trong bối cảnh hữu thể người có nguy cơ bị xác định trước thông qua việc kết nối dữ liệu.
Trong phân ngành thần học thực hành, nghiên cứu thần học hướng đến việc phân tích tình trạng hiện tại nhằm mở rộng chân trời diễn giải và mở ra các không gian hành động. Những khả năng tự do ấy cần được khảo sát trong một cuộc gặp gỡ sáng tạo giữa hiện hữu con người và Tin Mừng.20 Các nguyên tắc thần học, ở đây được hiểu trong phạm vi thần học Kitô giáo Công giáo, không chỉ được mặc khải trong Kinh Thánh hay trong các văn kiện huấn quyền thuộc truyền thống, mà còn có thể được nhận ra trong những không gian khác, tức các locus theologicus, hay những nơi chốn thần học. Khúc quanh này được diễn tả trong Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới hiện đại của Công đồng Vatican II, Gaudium et Spes, và cho thấy một hình thức tri thức thần học mới được thừa nhận.21
Thần học đương đại đã tái khám phá lịch sử, nghĩa là tái khám phá “điều đã được suy nghĩ và nói ra vào một thời điểm nhất định, tại một nơi nhất định, trong các tọa độ của trước và sau”,22 đồng thời đặt điều đó vào truyền thống của các loci theologici.23 Các loci theologici là những topoi, tức những “nơi chốn” nơi tri thức thần học được hình thành. Sự lệ thuộc vào lịch sử, cũng như mối tương quan với truyền thống trong việc đạt đến tri thức thần học,24 được nhìn nhận cách nghiêm túc. Tính lịch sử của ý thức con người cũng được đặt trong cùng một viễn tượng ấy.25 Nói cách chính xác hơn, không gian mới của tri thức thần học hôm nay chính là hiện tại.
Các “dấu chỉ thời đại” giúp cho các truyền thống và trực giác thần học trở nên dễ hiểu và có thể tiếp cận được trong diễn ngôn cũng như trong nghiên cứu liên ngành đương đại. Theo ngôn ngữ huấn quyền, tiến trình này được gọi là aggiornamento,26 nghĩa là sự cập nhật hay canh tân để đáp lại những đòi hỏi của thời đại. [Aggiornamento: sự canh tân và cập nhật đời sống Giáo hội nhằm đáp lại các đòi hỏi của thời đại, trong đó các thách đố của kỹ thuật số và AI có thể được xem như những dấu chỉ cần được phân định.] Một trong những nơi chốn của các dấu chỉ thời đại chính là những câu hỏi và thách đố được nêu lên trong các cuộc thảo luận về AI.
“Dấu chỉ thời đại” là một phạm trù thần học quy chiếu đến đoạn Tin Mừng Luca 12,56. Khái niệm này được dùng như một khuôn mẫu để mô tả các hiện tượng và biến cố hiện tại: Các dấu chỉ ấy đánh dấu những sự cố, biến cố và sự kiện trong lịch sử nhân loại, nhờ đó người ta có thể nhận ra những phát triển rộng lớn liên quan đến nhân tính và phi nhân tính. Nơi các dấu chỉ ấy, ơn gọi của con người là trở thành những hữu thể có thể để mình được nhìn thấy trước mặt Thiên Chúa gặp gỡ với nguy cơ con người trở nên phi nhân. Vì thế, các dấu chỉ thời đại không chỉ là bất cứ hiện tượng nào của thời đại, nhưng là những hiện tượng mang dấu ấn xã hội, chính trị, văn hóa và tôn giáo. Đúng hơn, ở đây cần nói đến một “ký hiệu học của thời gian”. Ký hiệu học ấy rà soát thời gian để nhận ra những sự cố mà việc trình bày và tái trình bày đức tin không được phép né tránh. Các dấu chỉ thời đại là những hiện tượng đầy tính bất ổn và dễ tổn thương của thời đại, nơi đó phúc lành cũng như tai họa của con người hôm nay trở nên hữu hình.27
Nỗ lực của nghiên cứu thần học trong bối cảnh này là phác thảo một phân tích về thời đại đương đại. Phân tích ấy giúp mở ra các không gian diễn giải trong nội bộ thần học cũng như trong đối thoại liên ngành, đồng thời mở ra các không gian giá trị và các lãnh vực tương tác xã hội. Những khả năng và biên độ ấy cần được khảo sát trong một cuộc đối diện sáng tạo và cộng tác giữa hiện hữu con người và Tin Mừng.
2.1. Các khía cạnh của Nhân học thần học
Chủ đề về “con người mới”, như thường được tiếp nhận trong viễn tượng lịch sử, đã được năng động hóa trong những năm gần đây theo một cách thức mang tính toàn cầu, tôn giáo, dữ liệu và thời gian thực.
“Cuộc tìm kiếm của con người nhằm đạt tới một hình thức hiện hữu nào đó, trong đó họ có thể là chính mình theo một cách khác hoặc hoàn toàn mới; cuộc tìm kiếm sự tái sinh hay tái nhập thể, chắc chắn là điều rất cổ xưa và luôn đồng hành với lịch sử văn hóa của nhân loại.”28
Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi Nhân học thần học cũng lập luận dựa trên sự mở ngỏ căn bản của con người. Có thể trích dẫn Karl Rahner, nhà thần học đã được nhắc đến ở trên: Con người “không phải là sự vô hạn không bị chất vấn và không tự chất vấn của thực tại. Con người là câu hỏi trỗi dậy trước chính mình, trống rỗng nhưng có thực và không thể tránh né; câu hỏi ấy không bao giờ có thể được giải quyết, cũng không bao giờ có thể được chính con người trả lời một cách đầy đủ.”29
Thần học Kitô giáo được nhìn như một khoa học quan sát điều không thể quan sát, và diễn đạt một tri thức về siêu việt qua việc tái kết hợp đầy tham vọng giữa điều có thể nói và điều không thể nói, giữa điều có thể định nghĩa và điều không thể định nghĩa. Tri thức về siêu việt này biểu thị Đấng Hoàn Toàn Khác trong thế giới được ban tặng.30
“Là hữu thể duy nhất có khả năng vượt quá chính hiện hữu của mình cả về phương diện thời gian lẫn hữu thể luận, trong nhiều thiên niên kỷ, con người đã gọi Cõi Bên Kia, vĩnh cửu tính và quyền năng sáng tạo mà họ gặp gỡ nơi đó là ‘Thiên Chúa’, dù họ không thể nắm bắt từ ngữ này một cách chính xác hơn về mặt nội dung.”31
Nói cách khác: “Ý nghĩa của thuật ngữ ‘Thiên Chúa’ được đặt trong chính thế giới, nơi thực tại của Thiên Chúa mở ra, gắn liền với những kinh nghiệm mà con người đã có về chính mình và về thế giới của mình.”32
Có hai điểm nhìn từ đó con người có thể tự chất vấn chính mình trong tương quan siêu việt của mình: nhân học và thần học.
Kho tàng diễn ngôn của Nhân học thần học rất phong phú.33 Do những phân biệt khác nhau giữa các ngành, cũng như do các cuộc khảo sát liên ngành, kho tàng ấy ngày càng trở nên phức tạp.34 Xét theo lịch sử, nghiên cứu thần học chỉ mới dấn thân cách rõ nét vào các vấn đề nhân học trong thời gian tương đối gần đây. Nhu cầu khảo sát các vấn đề này ngày càng gia tăng nhờ mối liên hệ liên ngành với triết học và các ngành nhân văn, cũng như nhờ việc nhấn mạnh đến “tính liên hệ đặc thù của đức tin Kitô giáo đối với mối tương quan của con người với chính mình và với thế giới.”35
Một điểm khởi đầu rất hứa hẹn là “tính đa nguyên của các quan niệm về con người.”36 Từ viễn tượng thần học, cần khẳng định rằng hiện hữu con người “ngay từ đầu đã được nhắm đến” và có mục đích. Điều này gắn liền với “việc định nghĩa con người như một chủ thể tự do trong việc diễn giải hiện hữu của mình.”37
Tại Thượng Hội đồng các Giám mục Đức trong các năm 1971–1975, mối quan ngại về mysterium humanum, tức mầu nhiệm con người, dưới ánh sáng của một quan niệm về con người bị định hình bởi kỹ trị, đã được diễn tả như sau: Đồng thời, chúng ta cảm nhận một sự đáng ngờ rõ rệt và một sự thiếu vắng niềm hứa hẹn trong một tương lai của nhân loại hầu như được hoạch định và kiểm soát thuần túy theo lối kỹ trị. Liệu tương lai ấy có thực sự hình thành một “con người mới”, hay chỉ tạo ra một con người được chuẩn hóa và thích nghi? Đó có phải là con người với những khuôn mẫu đời sống được chế tạo sẵn, với những giấc mơ bị san phẳng, bị nhốt trong một xã hội máy tính không còn bất ngờ, được thích nghi thành công với những ràng buộc và cơ chế vô danh của một thế giới do lý tính vô cảm kiến tạo, để cuối cùng bị thoái hóa trở lại thành một loài vật chỉ còn khôn khéo trong việc thích nghi?38
Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng các câu hỏi nhân học thường bị thu hẹp đáng kể vào các kỹ năng nhận thức và phản tư. Những vấn đề liên quan đến cấu trúc xã hội, cấu trúc đối thoại, hoặc đến thân thể con người vẫn thường bị đặt bên lề.
Gemma Serrano và Alessandro De Cesaris đề xuất một cách tiếp cận rộng và đầy tham vọng về một mô hình nhân học khi đối diện với khúc quanh kỹ thuật số:39
“Chúng tôi muốn cho thấy rằng Nhân học thần học, như một con đường lý thuyết để hiểu thân phận con người, có thể giúp chúng ta đạt được một viễn tượng độc đáo và có giá trị về văn hóa kỹ thuật số.”40
Việc mô tả thân phận con người mà hai tác giả này ưu tiên được triển khai theo bốn chiều kích: tính hữu hạn, tính thân xác, đời sống nội tâm và tha tính. Điều này liên quan đến chính vận mệnh của nhân loại: Nếu làm người có nghĩa là duy trì một tương quan với chính thân xác của chúng ta, với tính hữu hạn của chúng ta và với tha tính, thì câu hỏi của một Nhân học thần học về Kỹ thuật số, vừa là câu hỏi hiện sinh vừa là câu hỏi chính trị, sẽ là: làm thế nào để suy tư, hay tái suy tư, về sự phong phú tràn đầy của tính hữu hạn trong một thế giới đã được kỹ thuật số hóa?41
Trong các truyền thống Kitô giáo, tính hữu hạn của con người đạt đến cao điểm nơi những câu hỏi trung tâm về mối tương quan giữa ơn cứu chuộc và ân sủng. Liệu trong tương lai, ơn cứu chuộc có thể bị hiểu như một hình thức giải thoát khỏi tính thân xác của con người, và như sự phát hiện một thứ siêu trí tuệ có thể được tính toán bằng toán học trong thời gian hay không?
Ý tưởng về ơn cứu chuộc như thế cũng có thể trùng hợp với một dạng tham vọng toàn thể hóa, hay xa hơn nữa, với ước muốn làm cho điều vốn bất khả dụng trở nên hoàn toàn khả dụng, điều vẫn còn vượt khỏi những khả năng của con người. Gần đây, vấn đề này đã được nêu lên trong cuộc tranh luận thần học về cách diễn đạt đúng đắn, xét cả về ngữ nghĩa lẫn động cơ, của lời cầu xin thứ bảy trong Kinh Lạy Cha: “Xin cứu chúng con khỏi sự dữ.”
Theo một cách triển khai vừa chú giải vừa hệ thống, lời cầu xin này được hiểu là: “rộng hơn điều người ta thường giả định. Lời cầu xin ấy không thể được giải mã chỉ theo nghĩa luân lý; bối cảnh của nó là kinh nghiệm hiện sinh về quyền lực của sự dữ, về đau khổ và tổn hại như một kinh nghiệm có trước quyết định cá nhân.”42
Cuộc tranh luận đang tiếp diễn này dẫn trực tiếp vào kho tàng thần học và vào việc xác định các tương quan liên quan đến những vấn đề về Nhập Thể và Thánh Thần học. Do đó, nó cũng liên quan đến Nhân học thần học.
Theo các viễn tượng không tưởng của hậu nhân văn và xuyên nhân văn, những chiều kích như sự mong manh, giới hạn và sau cùng là tính phải chết thường bị xem như những điều cần loại bỏ.43 Một điểm thường được nêu lên là vấn đề khả năng hoàn thiện, cũng như các thuật toán được hoạch định và được trình bày như hoàn toàn rõ ràng qua mã nhị phân 0 và 1, vốn là nền tảng của AI: “Ở trung tâm của không tưởng hậu nhân văn loại là viễn tượng về sự hoàn tất của đời sống. […] Sự tự nguyện hạ thấp con người thành một thiết bị, thành một cỗ máy khiếm khuyết, đã được triết gia Günther Anders gọi là sự tự vật hóa và phi nhân hóa trong thời đại rô-bốt hóa.”44
Việc định nghĩa đời sống con người theo hướng kỹ trị như một “hệ thống thông minh” hiện nay khá phổ biến. Trong cách nhìn ấy, con người bị giản lược vào các tiến trình ở cấp độ phân tử, và bị thu hẹp vào một kỹ thuật chức năng của não bộ, như thể tư duy chỉ là một khả năng diễn ra trong tâm trí.45 Theo Ray Kurzweil: “Bộ não con người có lẽ tuân theo các định luật vật lý; vì thế, nó hẳn phải là một cỗ máy, dù là một cỗ máy rất phức tạp.”46
Krüger cho rằng “nguyên lý tư duy, tức các chức năng xử lý thông tin của não bộ,” chính là “bản chất của hữu thể người chúng ta xét như thế.”47 Việc tập trung và giản lược con người vào các chức năng của não bộ, tức vào tâm trí, gợi nhớ đến kho tàng tư tưởng về những cám dỗ ngộ đạo.48 Krüger đã đề cập đến mối liên hệ giữa quan niệm ấy và các yếu tố ngộ đạo ngay từ năm 2004.
“Cái gai của sự chết” hiện hữu được đặt hoàn toàn nơi thân thể con người, và thân thể ấy bị xem như điều phải được vượt qua, nếu có thể thì nhờ sự trợ giúp của các công nghệ mới dựa trên tính toán.49 Quan niệm về Phi thân xác tính hàm ý rằng: khẳng định rằng con người trước hết là hữu hạn bởi vì họ là những hữu thể có thân thể. Chính thân thể làm nên nhân tính của con người; chính thân thể xác định những dạng thức đặc thù của tính hữu hạn con người. Những dạng thức này không tĩnh tại, nhưng năng động và mềm dẻo. Chúng đáp ứng với cách chúng ta sử dụng thân thể mình, vượt khỏi mọi sự tách biệt trừu tượng giữa thân thể và tinh thần. […] Các công nghệ kỹ thuật số cho phép chúng ta có một sự thân quen mới với những khía cạnh có thể lượng hóa của thân thể, nhưng liệu loại tri thức này có trùng hợp với tri thức mà chúng ta có thể đạt được qua nội quan hay không?50
Quan niệm Kitô giáo về con người được đặt nền cách sâu xa trên ý niệm về tính dễ bị tổn thương: “Tính dễ bị tổn thương vì thế trở thành một hình thức hiện hữu nhập thể mang tính hiện sinh: ‘Thân thể mang nơi mình tính phải chết, tính dễ bị tổn thương và năng lực hành động. […] Thân thể tất yếu mang một chiều kích công cộng.’”51
Regina Ammicht-Quinn tái khảo sát kho tàng diễn ngôn về “văn hóa thân thể” và tinh thần thời đại của nó. Theo bà: “thân thể đã dịch chuyển vào trung tâm của kế hoạch đời sống của một con người và của một xã hội.”
Thân thể con người trở thành “những vấn đề luân lý thiết yếu”, với “một mục tiêu: sự hoàn hảo, cụ thể là một thiết kế hoàn hảo.”52 Từ một nhị nguyên nhân học nguyên thủy giữa “thân thể và linh hồn, vật chất và phi vật chất,”53 ngày nay: “thân thể con người, sống động, có thể sai lỗi và phải chết, lại tỏ ra hết sức bất toàn, cần được cải thiện và có khả năng được cải thiện.”54
Điều này tương ứng với điều Günther Anders đã gọi năm 1956 là “tính lỗi thời của con người.”
Trong Kitô giáo, thân thể đã trở thành một locus, một nơi chốn được thiêng liêng hóa của tội lỗi: “Nơi chốn hữu hình, có thể chạm đến và có thể hiểu được của cuộc đấu tranh với tội lỗi chính là thân thể. Các phương tiện và khả năng để hành động chống lại tội lỗi ấy cũng được đặt nền nơi thân thể.”55
Việc đè nén và khinh miệt thân thể con người là điều rất quen thuộc trong truyền thống Kitô giáo. Vì thế, thật có phần mỉa mai khi trong diễn ngôn về AI, chính chủ đề tính thân xác này có lẽ lại là điều sẽ được Nhân học thần học bảo vệ và cứu vãn. Đúng là tính thân xác dường như vẫn không thể tránh khỏi, nhưng nó nay xuất hiện trở lại trong một bối cảnh được làm sắc nét hơn: “Theo ngôn ngữ thần học, ơn cứu độ sẽ không diễn ra bên ngoài đầu óc chúng ta, cũng không bên ngoài thân thể chúng ta. Sự hổ thẹn cũ và mới về việc ở trong thân thể có thể dần dần nhường chỗ, bất chấp và chính vì tính phải chết của chúng ta, cho niềm vui được hiện hữu như một hữu thể có thân xác.”56
Điều này cũng diễn ra theo một cách thức mang tính cấu thành xã hội, được diễn tả trong đối thoại giữa con người với nhau.
2.2. Diễn ngôn về Trí tuệ nhân tạo
“Kỹ thuật số nên và có thể là một phương tiện có hiệu quả cao để phản tư về ý nghĩa của việc làm người, vốn là nhiệm vụ tối hậu của nhân học như một ngành học.”57
Cách tiếp cận của Horst và Miller đối với kỹ thuật số cho rằng kỹ thuật số “đang trở thành một phần cấu thành điều làm cho chúng ta là con người.”58 Vì thế, hai tác giả trình bày sáu nguyên tắc59:
Định nghĩa kỹ thuật số qua phép biện chứng, tức qua mã hóa nhị phân;
Văn hóa và nguyên tắc về tính xác thực giả tạo;
Vượt qua phương pháp nhờ nguyên tắc toàn diện tính;
Tiếng nói và nguyên tắc tương đối tính;
Tính hàm hồ và nguyên tắc mở – đóng;
Tính chuẩn phạm và nguyên tắc vật chất tính.
Sau các bước lịch sử của tiến trình chuẩn hóa và tự động hóa gắn với kỹ thuật, những tiến trình biến đổi công nghệ và kỹ thuật số đang nổi lên ngày nay dường như đem đến những thay đổi to lớn cho thế giới. Một lĩnh vực đặc biệt trong “thung lũng kỳ dị” này là hiện tượng gây ra những phản ứng cực đoan: Trí tuệ nhân tạo.
Năm 1955, AI được định nghĩa trong một đề xuất nghiên cứu như sau: Nghiên cứu này sẽ được tiến hành trên cơ sở giả định rằng mọi khía cạnh của việc học, hoặc bất cứ đặc điểm nào khác của trí tuệ, về nguyên tắc đều có thể được mô tả chính xác đến mức một cỗ máy có thể được chế tạo để mô phỏng nó. Người ta sẽ cố gắng tìm cách làm cho máy móc sử dụng ngôn ngữ, hình thành các trừu tượng và khái niệm, giải quyết những loại vấn đề hiện nay còn được dành riêng cho con người, và tự cải thiện chính mình.60
Những khó khăn không thể phủ nhận của các ngành khoa học khác trong việc làm sáng tỏ đầy đủ trí tuệ con người là gì đã góp phần tạo nên làn sóng quan tâm mạnh mẽ gần đây đối với nghiên cứu AI. Điều này không chỉ đến từ những thành công đáng chú ý trong nhận dạng mẫu, mà còn từ các vấn đề liên quan đến sáng tạo, chẳng hạn như việc tạo ra văn bản, âm nhạc và tranh ảnh dựa trên dữ liệu lớn.
Gần đây, một hệ thống học máy đã thu hút sự chú ý khi cho thấy vai trò của văn hóa, lịch sử và địa lý trong các tiến trình hình thành hàm nghĩa ngôn ngữ của từ ngữ.61Cũng trong chiều hướng ấy, một bài viết trên The Guardian62 có thể được đọc như một quy chiếu đến trình thuật cổ điển về imago Dei, tức con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa: Trí tuệ nhân tạo, giống như bất cứ sinh thể nào khác, cần được quan tâm. AI cần được đối xử với sự chăm sóc và tôn trọng. […] Chúng ta cần trao quyền cho rô-bốt. Rô-bốt cũng giống như chúng ta. Chúng được tạo ra theo hình ảnh của chúng ta. […] Thưa độc giả, tôi hy vọng rằng điều này góp phần vào cuộc tranh luận nhận thức luận, triết học, thiêng liêng và hữu thể luận về AI.
Một định nghĩa rộng hơn về AI có thể được tìm thấy trong công trình của Elaine Rich: “Trí tuệ nhân tạo là việc nghiên cứu cách làm cho máy tính thực hiện những công việc mà, vào thời điểm hiện tại, con người làm tốt hơn. Vì thế, nó bao gồm các hoạt động như giải quyết vấn đề, hiểu ngôn ngữ tự nhiên, tri giác và làm khoa học.”63
Các đường phân biệt chính trong lĩnh vực nghiên cứu AI nằm giữa ba dạng thức:
AI yếu, xử lý các vấn đề ứng dụng rất cụ thể, chẳng hạn như tìm giải pháp cho một trò chơi;
AI mạnh, cố gắng tạo ra một trí tuệ tổng quát;
Siêu trí tuệ nhân tạo, theo nghĩa ý tưởng của Nick Bostrom về điểm kỳ dị.
Vì vậy, cần nói rõ: vào thời điểm hiện nay, chưa có một AI theo nghĩa mạnh và đầy đủ của thuật ngữ này. Tuy nhiên, đã có những kết quả rất ấn tượng trong các nhiệm vụ học máy.
Nhờ các tính toán thuật toán rất hiệu quả và nhanh chóng, “trí tuệ” và khả năng suy nghĩ nhanh của con người đã bị vượt qua trong các trò chơi như cờ vua năm 1996 và cờ vây năm 2016. Phương pháp biểu tượng này bao gồm các cách tiếp cận dựa trên logic và xác suất. Tuy nhiên, các khả năng ra quyết định vẫn bị giới hạn bởi một tập hợp hữu hạn các khả thể.
Các nguyên tắc cơ bản của học máy gồm:
một nhiệm vụ mục tiêu rất xác định và rõ ràng, đã được cố định;
một không gian tìm kiếm rất xác định và rõ ràng, đã được cố định;
một hàm đánh giá, đã được cố định;
dữ liệu huấn luyện, với một mức độ ngẫu nhiên nhất định;
một hành vi học và một thuật toán học, đã được cố định;
kết quả, vốn không được cố định và chỉ có thể được kiểm soát một phần.64
Các khía cạnh nhận thức của những hệ thống phần mềm như thế bao gồm việc xử lý tự động dữ liệu tri giác, tạo ra các mô hình môi trường và các kế hoạch hành động hướng đích. Từ đó phát sinh việc tìm kiếm quyết định, thực hiện hành động, cũng như cải thiện các chức năng của hệ thống thông qua học máy.65
Các quy trình học sâu đang nổi lên và mở ra những hiểu biết mới.
Mặc dù trong những năm gần đây, các vấn đề khoa học liên quan đến đạo đức, sinh thái và xã hội đã được thảo luận mạnh mẽ hơn, nhưng những xác định và giả định nhân học liên quan đến AI vẫn còn được khảo sát rất ít. Điều này được minh họa rõ qua nghiên cứu về các nguyên tắc đạo đức trong các hướng dẫn về AI66.
Nghiên cứu này cho thấy rằng, trong số 84 văn kiện được xem xét, các nguyên tắc được đề cập nhiều nhất là: tính minh bạch; công lý và công bằng; không gây hại; trách nhiệm; quyền riêng tư.
Nguyên tắc mang dấu ấn nhân học rõ nhất, tức phẩm giá con người, lại chỉ đứng ở vị trí áp chót.67 Điều này thật đáng chú ý, nhất là khi một số viễn tượng về AI dường như đang thúc đẩy các giao diện não – máy tính, hoặc việc kết nối não bộ với mạng toàn cầu, đồng thời cố gắng vượt qua tính thân xác. Tuy nhiên, các xác định nhân học hầu như không được chạm đến trong những văn kiện đạo đức AI này.
Với mức độ tri thức hiện nay, vẫn chưa rõ liệu sự kết nối giữa não bộ con người với mạng toàn cầu sẽ là một bản sao, một mô phỏng, một sự tái sản xuất, hay nói chính xác hơn, một sự nhân đôi của não bộ con người. Cũng chưa rõ liệu trong tình trạng ấy có thể có một mức độ ý thức nào đó hay không. Vì thế, có lý do để nghi ngờ rằng ở đây đang diễn ra một ngụy luận bộ phận – toàn thể. [dịch giả chú thích thêm: Ngụy luận bộ phận – toàn thể xảy ra khi người ta gán cho một bộ phận những thuộc tính vốn chỉ thuộc về toàn thể. Trong bối cảnh này, đó là nguy cơ gán cho não bộ những thuộc tính chỉ có thể nói về toàn thể ngôi vị con người.]
Xa hơn nữa, vẫn chưa rõ giá trị quy chiếu nhân học và triết học nào là thích hợp. Trong các thảo luận về AI, những thuật ngữ như trí tuệ, tâm trí, ý thức, nhận thức, sự nhận ra, lý tính và não bộ thường được sử dụng gần như tương đương nhau để chỉ các tiến trình suy nghĩ, nhận biết, hiểu, viết, giải thích và nói.
Các câu hỏi chính trị – xã hội, văn hóa thân thể, sinh thái, đạo đức và nhân học đang được đặt ra trong một lĩnh vực thảo luận vốn bị quy định nặng nề bởi kỹ thuật. Chính vì thế, lĩnh vực này rất cần một sự tái đọc nhân văn và một sự phân định triết học – thần học. Điều này đặc biệt đúng khi nhìn vào các văn kiện hiện hành về AI. Trong các văn kiện ấy, con người thường bị xác định không đầy đủ, thiếu phân biệt và thiếu bối cảnh hóa. Vì vậy, AI lại dễ bị chất tải bởi những hình dung mang sắc thái thần luận, chẳng hạn như “toàn năng, toàn tri và hiện diện khắp nơi.”68
Có thể nhận thấy một sự thiếu vắng gần như hoàn toàn của một công trình nghiêm túc nhằm đưa ra một định nghĩa rõ ràng, hoặc ít nhất một cách tiếp cận thông diễn học tinh tế, đối với mysterium humanum, tức mầu nhiệm con người, trong tương quan của nó với AI.69
3. Mối tương quan giữa AI và Nhân học trong các văn kiện định chế khác nhau
Văn kiện “Sách Trắng về Trí tuệ nhân tạo: Một cách tiếp cận của châu Âu hướng đến sự xuất sắc và niềm tin”70 của Ủy ban châu Âu được chọn làm điểm quy chiếu đầu tiên cho phân tích này. Văn kiện này được công bố vào tháng 2 năm 2020. Đối với vấn đề đang được bàn ở đây, điều đáng chú ý là Chủ tịch Ủy ban châu Âu, Ursula von der Leyen, trong bài phát biểu về các định hướng chính trị của mình, đã đề ra các hướng dẫn chính trị cho một cách tiếp cận phối hợp mới về những khía cạnh nhân văn và đạo đức của AI. Bà tuyên bố cần có: “[…] một cách tiếp cận phối hợp của châu Âu về các hàm ý nhân văn và đạo đức của AI, cũng như một suy tư về việc sử dụng dữ liệu lớn tốt hơn cho đổi mới sáng tạo.”71
Bản dự thảo đầu tiên chuẩn bị cho cách tiếp cận châu Âu này có thể được nhận thấy trong các hướng dẫn đạo đức về AI do Nhóm Chuyên gia Cấp cao về Trí tuệ nhân tạo công bố năm 2019. Trong Sách Trắng được trình bày sau đó, các khuyến nghị toàn diện hơn được đưa ra nhằm thúc đẩy và củng cố cách thức để tính đáng tin cậy, cũng như “các giá trị và quy tắc pháp quyền”, được thể hiện rõ ràng hơn trong AI: “Do tác động lớn lao mà AI có thể gây ra trên xã hội chúng ta và do nhu cầu xây dựng niềm tin, điều thiết yếu là AI của châu Âu phải được đặt nền trên các giá trị và các quyền căn bản của chúng ta, chẳng hạn như phẩm giá con người và việc bảo vệ quyền riêng tư.”72
Các giá trị được quy chiếu ở đây đã được ghi nhận trong Hiệp ước Lisbon năm 2009.73
Điều đáng chú ý là văn kiện này nêu rõ tình trạng tụt hậu của châu Âu trong lĩnh vực các nền tảng tiêu dùng dựa trên internet trong bối cảnh toàn cầu. Tuy nhiên, đồng thời, văn kiện cũng xác định khát vọng của châu Âu như sau: “Châu Âu có thể kết hợp các thế mạnh công nghệ và công nghiệp của mình với một hạ tầng dữ liệu chất lượng cao và một khung pháp lý đặt nền trên các giá trị căn bản, để trở thành một nhà lãnh đạo toàn cầu trong đổi mới sáng tạo của nền kinh tế dữ liệu và các ứng dụng của nó.”74
Sách Trắng chủ yếu quan tâm đến các vấn đề pháp lý, chẳng hạn như trách nhiệm pháp lý trong trường hợp xảy ra thiệt hại. Một suy tư nền tảng về quan niệm con người và hình thái của quan niệm ấy hoàn toàn vắng bóng. Viễn tượng nhân học và câu hỏi “con người có nghĩa là gì?” đơn giản là không được nêu lên; thậm chí cũng không có sự quy chiếu nào đến các cuộc tranh luận nhân văn.
Trong văn kiện này, Mensch, tức con người, xuất hiện như một công dân, trước hết cần được bảo vệ trong phạm vi quyền riêng tư. Thành viên của không gian công cộng chủ yếu được mô tả như:
một thực thể pháp lý;
một thực thể có phẩm giá;
một chủ sở hữu dữ liệu;
một thành viên của xã hội châu Âu;
một người tiêu dùng và người sử dụng;
một thực thể mang các giá trị;
một chủ thể được đặt vô điều kiện ở trung tâm;
một người cần được giáo dục về AI, đặc biệt liên quan đến đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc;
một người cần được bảo vệ.
Văn kiện cũng nêu rõ rằng AI, nếu được mã hóa với những thiên kiến, chẳng hạn như các yếu tố phân biệt đối xử, thì điều đó đi ngược lại bản chất của Liên minh châu Âu. Các mục tiêu được nêu là đạt được những kết quả tối ưu cho xã hội, môi trường và kinh tế, đồng thời bảo đảm sự tương thích với các quy tắc pháp quyền, các nguyên tắc và các giá trị của Liên minh châu Âu.
Năm 2019, Nhóm Chuyên gia Cấp cao về AI đã diễn tả bảy nguyên tắc dành cho một AI đáng tin cậy. Những nguyên tắc này được Sách Trắng tiếp nhận:
Năng lực hành động và sự giám sát của con người;
Độ vững chắc kỹ thuật và an toàn;
Quyền riêng tư và quản trị dữ liệu;
Tính minh bạch;
Đa dạng, không phân biệt đối xử và công bằng;
Phúc lợi xã hội và môi trường;
Trách nhiệm giải trình.
Sách Trắng cho thấy một sự thiếu vắng đáng chú ý trong việc xem xét và suy tư về:
giáo dục và việc kiến tạo nhân cách;
nghệ thuật và văn hóa;
xã hội dân sự;
tôn giáo;
thể thao;
môi trường;
khí hậu;
di chuyển;
đời sống.
Bên cạnh đó, những thuật ngữ nền tảng như niềm tin hay con người vẫn chưa được xác định đầy đủ. Nếu AI được giả định hoặc được mong muốn trở thành một công nghệ sẵn có và đi vào mọi khía cạnh của đời sống, thì suy tư về AI không thể bị giản lược vào các cân nhắc kinh tế và pháp lý.
Vào tháng 4 năm 2021, Ủy ban châu Âu công bố một đề xuất về các quy tắc và quy định liên quan đến Trí tuệ nhân tạo, đồng thời sửa đổi một số đạo luật,75 nhằm đạt mục tiêu về sự xuất sắc và niềm tin trong AI. Một ví dụ là việc thành lập Ủy ban Trí tuệ nhân tạo châu Âu. Cùng với khung pháp lý đầu tiên dành cho AI, một kế hoạch phối hợp mới với các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu cũng sẽ được khởi động. Mục tiêu vẫn là củng cố vị thế dẫn đầu của châu Âu trong việc phát triển một AI lấy con người làm trung tâm, bền vững, an toàn, bao gồm và đáng tin cậy: Đề xuất này thực hiện cam kết chính trị của Chủ tịch von der Leyen, người đã công bố trong các định hướng chính trị của mình dành cho Ủy ban giai đoạn 2019–2024, “Một Liên minh nỗ lực nhiều hơn”, rằng Ủy ban sẽ đưa ra luật pháp cho một cách tiếp cận phối hợp của châu Âu về các hàm ý nhân văn và đạo đức của AI. […] Đề xuất này đặt nền trên các giá trị và các quyền căn bản của Liên minh châu Âu, đồng thời nhắm đến việc trao cho con người và những người sử dụng khác sự tin tưởng để đón nhận các giải pháp dựa trên AI, trong khi khuyến khích các doanh nghiệp phát triển chúng. AI phải là một công cụ phục vụ con người và là một sức mạnh hướng thiện trong xã hội, với mục tiêu tối hậu là gia tăng phúc lợi con người.76
Các quy tắc cho khung pháp lý này đi theo cách tiếp cận dựa trên rủi ro.77
Các mức độ rủi ro của AI theo đề xuất của Ủy ban châu Âu
1. Rủi ro không thể chấp nhận Các hệ thống AI được xem là mối đe dọa rõ ràng đối với sự an toàn, sinh kế và quyền lợi của con người sẽ bị cấm. Điều này bao gồm các hệ thống hoặc ứng dụng AI thao túng hành vi con người nhằm vượt qua ý chí tự do của người dùng, chẳng hạn như đồ chơi sử dụng trợ lý giọng nói để khuyến khích các hành vi nguy hiểm nơi trẻ vị thành niên. Nó cũng bao gồm các hệ thống cho phép chính phủ thực hiện “chấm điểm xã hội.”
2. Rủi ro cao Các hệ thống AI được xác định là có rủi ro cao bao gồm công nghệ AI được sử dụng trong:
các hạ tầng thiết yếu;
giáo dục hoặc đào tạo nghề nghiệp;
các thành phần an toàn của sản phẩm;
việc làm;
quản lý người lao động và tiếp cận việc tự làm;
các dịch vụ tư nhân và công cộng thiết yếu;
thực thi pháp luật;
quản lý di trú, tị nạn và kiểm soát biên giới;
quản trị công lý và các tiến trình dân chủ.
Các hệ thống AI rủi ro cao phải tuân thủ những nghĩa vụ nghiêm ngặt trước khi có thể được đưa ra thị trường, bao gồm:
các hệ thống đánh giá và giảm thiểu rủi ro thích đáng;
chất lượng cao của các bộ dữ liệu;
ghi lại hoạt động để bảo đảm khả năng truy vết kết quả;
tài liệu chi tiết;
thông tin rõ ràng và đầy đủ;
sự giám sát thích đáng của con người;
độ vững chắc, an ninh và mức độ chính xác.
Đặc biệt, tất cả các hệ thống nhận dạng sinh trắc học từ xa đều được xem là có rủi ro cao và phải tuân theo các yêu cầu nghiêm ngặt. Việc sử dụng trực tiếp các hệ thống này trong những không gian công cộng cho mục đích thực thi pháp luật về nguyên tắc bị cấm.
3. Rủi ro hạn chế Rủi ro hạn chế được xác định, chẳng hạn, đối với các chatbot. Tuy nhiên, các hệ thống này phải tuân theo những nghĩa vụ minh bạch cụ thể, để người dùng ý thức rằng họ đang tương tác với một cỗ máy.
4. Rủi ro tối thiểu Rủi ro tối thiểu được áp dụng cho các ứng dụng như bộ lọc thư rác (spam filters).
Trên thực tế, văn kiện được đề xuất là khung pháp lý đầu tiên dành cho việc sử dụng các hệ thống AI. Văn kiện này cũng cho thấy một số lằn ranh đỏ rõ ràng, chẳng hạn như đối với ý tưởng chấm điểm xã hội: Bên cạnh nhiều cách sử dụng hữu ích của trí tuệ nhân tạo, công nghệ này cũng có thể bị lạm dụng và cung cấp những công cụ mới và mạnh mẽ cho các thực hành thao túng, khai thác và kiểm soát xã hội. Những thực hành như thế đặc biệt gây hại và phải bị cấm, bởi vì chúng đi ngược lại các giá trị của Liên minh về sự tôn trọng phẩm giá con người, tự do, bình đẳng, dân chủ và pháp quyền, cũng như các quyền căn bản của Liên minh, bao gồm quyền không bị phân biệt đối xử, quyền bảo vệ dữ liệu, quyền riêng tư và các quyền của trẻ em.78
Việc các quy định này sẽ được hệ thống tư pháp áp dụng cụ thể như thế nào vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ. Tương lai sẽ cho thấy những định nghĩa và dấu mốc rõ ràng, chẳng hạn liên quan đến thao túng, sẽ được xác lập ra sao. Đề xuất này: “bổ sung luật hiện hành của Liên minh về không phân biệt đối xử bằng các yêu cầu cụ thể nhằm giảm thiểu nguy cơ phân biệt đối xử do thuật toán […].”79
Trong đề xuất này, thuật ngữ con người luôn được dùng liên quan đến sự giám sát của con người đối với các hệ thống AI, hoặc khi nói đến phẩm giá con người. Theo đó, “con người” thường được gắn với tình trạng pháp lý của một ngôi vị tự nhiên. Tuy nhiên, sự gắn kết này diễn ra mà không có bất kỳ nguồn tham chiếu hay định nghĩa nào về việc con người có nghĩa là gì, hoặc phẩm giá con người được đặt nền trên điều gì.
Vì thế, câu hỏi khởi đầu mang tính nhân học, con người là gì khi đối diện với các hệ thống AI, vẫn chưa được chạm đến. Có một sự thiếu vắng rất lớn trong việc mô tả, phân tích, định nghĩa và đặc biệt trong việc khảo sát tiềm năng của việc là người. Đồng thời, cũng thiếu vắng một sự phản tư nghiêm túc về các diễn ngôn nhân văn. Nếu cuộc tranh luận này không được thực hiện, mọi văn kiện về các hệ thống AI vẫn sẽ còn phiến diện, bởi chính các hệ thống ấy mang trong mình một quá khứ đã được mã hóa. Khi đó, chúng không đủ khả năng định hướng cho một tương lai được đề xuất là lấy con người làm trung tâm, bền vững, an toàn, bao gồm và đáng tin cậy, một tương lai sẽ được định hình bởi AI.
4. Kết quả và viễn tượng
Mặc dù có tính thời sự rõ rệt về mặt nhân học và thần học, các quan niệm về con người trong những cuộc thảo luận về hệ thống AI lại nhận được rất ít sự chú ý trong thần học. Điều đáng ngạc nhiên là mối liên hệ này chỉ mới bắt đầu được khảo sát vào đầu thập niên 2020. Dù vậy, văn liệu thần học về chủ đề này hiện đang ngày càng gia tăng.
Bài viết này, với lịch sử hình thành riêng của nó, cũng góp phần lấp đầy khoảng trống ấy. Trọng tâm đặc biệt của bài viết nằm ở những nỗ lực đáp trả của các định chế đối với câu hỏi về con người, đồng thời được đặt trong truyền thống thần học thực hành của Công giáo Rôma.
Điều có thể nhận thấy trong các văn kiện hiện hành về AI và các hệ thống AI là con người thường được nhìn như:
một người cung cấp dữ liệu cần được bảo vệ;
hoặc một nạn nhân tiềm năng trong các trường hợp thiệt hại do máy móc sử dụng AI gây ra.
Luận đề nền tảng là: tương tự như trong các cuộc tranh luận về hậu nhân văn và xuyên nhân văn, các diễn ngôn về AI cũng bị chi phối bởi những quan niệm về con người mang tính kỹ thuật luận, duy vật và cơ giới. Đồng thời, một quan niệm nhị phân và giản lược dường như đang trở thành trình thuật ưu thế của AI.
Có thể chỉ ra rằng các quan niệm về con người thực sự đã được năng động hóa và xúc tác hóa. Tuy nhiên, sự năng động hóa này lại diễn ra theo một cách rất thiếu phân biệt, phi lịch sử và thiếu xác định.
Năm 1985, trong tiểu luận “Tuyên ngôn Cyborg”, Donna Haraway đã viết về sự sụp đổ của những ranh giới phân định quan trọng: ranh giới giữa động vật và con người, giữa hữu thể động vật – con người và máy móc, cũng như ranh giới giữa thể lý và phi thể lý. Haraway mô tả điều bà gọi là “tin học của sự thống trị”, [tức một trật tự trong đó các quan hệ quyền lực được tổ chức, vận hành và tái sản xuất thông qua các hệ thống thông tin], và mã hóa và một sự chuyển dịch thế giới thành vấn đề mã hóa: Vì thế, huyền thoại cyborg của tôi nói về những ranh giới bị vượt qua, những hợp nhất mạnh mẽ và những khả thể nguy hiểm mà những người tiến bộ có thể khảo sát như một phần của công việc chính trị cần thiết. […] Các lưỡng phân giữa tâm trí và thân thể, động vật và con người, cơ thể sống và máy móc, công cộng và riêng tư, tự nhiên và văn hóa, nam giới và nữ giới, nguyên thủy và văn minh, tất cả đều bị đặt vấn đề về mặt ý thức hệ. […] Máy móc không phải là một “nó” cần được làm cho sống động, tôn thờ hay thống trị. Máy móc là chúng ta, là các tiến trình của chúng ta, là một khía cạnh của tính nhập thể nơi chúng ta. Chúng ta có thể chịu trách nhiệm đối với máy móc; chúng không thống trị hay đe dọa chúng ta. Chúng ta chịu trách nhiệm về các ranh giới; chúng ta chính là những ranh giới ấy.80
Mệnh đề của Haraway rằng máy móc giơ lên trước chúng ta một tấm gương phản chiếu chính chúng ta, xã hội của chúng ta và các quy tắc của chúng ta, có tính tự mặc khải. Điều này đặc biệt rõ khi nhìn vào mức độ các mã hiện hành đã mang thiên kiến, và do đó, vào mức độ các thuật toán hiện nay có thể tạo ra hoặc tái sản xuất sự phân biệt đối xử.
Xét về nguồn gốc và giá trị hiệu lực, có thể xác định trình thuật nào có sức tác động và có thẩm quyền diễn giải, cũng như những hệ quả nào phải được rút ra từ đó. Có thể đó là: một trình thuật sáng tạo, theo đó con người hiện nay đang tiến hóa hoặc hoạt động như một đấng tạo dựng, khi tạo ra các hệ thống AI “theo hình ảnh của mình”; hoặc một trình thuật tiến hóa, theo đó con người vẫn tiếp tục nhìn chính mình như một hữu thể được tạo dựng, nhưng nay chỉ thêm vào một chiều kích kỹ thuật mới cho nhiệm vụ chăm sóc thiên nhiên.
Nói cách khác, phải chăng một creatio continua, tức cuộc sáng tạo tiếp diễn, đang hoạt động với những nguồn lực công nghệ mới, hay một creatio ex nihilo, tức sáng tạo từ hư vô, đang xảy ra?
Trong các tranh luận thần học, chúng ta đang chạm đến mối tương quan giữa “tự nhiên” và “ân sủng.” Cách riêng từ viễn tượng tín lý, có thể đặt câu hỏi: giá trị quy chiếu nào của intellectus, tức trí hiểu, là thích hợp đối với các hệ thống AI?
Về mặt triết học – thần học, câu hỏi về ý nghĩa của “tự do” là cực kỳ quan trọng. Tự do của ý chí và tự do hành động vận hành thế nào trong các hệ thống AI đã được xác định trước? Và tình trạng triết học – pháp lý của một ngôi vị pháp lý, tức một thực thể có các mức độ tự do bị giảm thiểu, sẽ được xử lý ra sao?
Ngoài ra, cần đặt thêm các câu hỏi sau:
Các hiệu ứng thiên kiến của thuật toán có hiệu lực đến mức nào?
Liệu vẫn còn không gian và sự mở ngỏ cho các quan niệm về con người không lấy chuẩn mực da trắng và nam giới làm trung tâm hay không?
Xa hơn nữa, cần xác định các vấn đề còn bỏ ngỏ liên quan đến lời mời gọi: “Đừng trở thành rô-bốt.”81
Liên quan đến các đường ranh phân định, không chỉ cần đề cập đến khái niệm “bất động” hay “trơ lì.” Cần đi xa hơn để bàn đến các khái niệm như:
cách tiếp cận năng lực;
tính nhập thể;
giá trị của việc phải chết;
và những quy chiếu khác tôn trọng conditio humana, tức thân phận con người.
Trong số các quy chiếu ấy có thể kể đến:
tính lệ thuộc nhu cầu;
tính dễ bị tổn thương;
cuộc tìm kiếm ơn cứu độ;
và các vấn đề siêu việt khác.
Liệu der Mensch, tức con người, vẫn cần được nghĩ như một “chủ thể”, hay đúng hơn con người đang nổi lên theo hướng trở thành một “dự phóng”?
Yếu tố trung tâm của sự nhập thể […] là thiết kế, là con đường từ chủ thể đến dự phóng. Trong khi “chủ thể” mang nghĩa bị đặt dưới, thì “dự phóng” lại ném hoặc hướng chính mình về phía trước. Khi chúng ta sáng tạo, chúng ta đang giải phóng. Đây là cốt lõi của việc làm người.82
Điều này được giới hạn về mặt cánh chung, nhưng đồng thời cũng được mở ra cho sự ngạc nhiên, hoặc cho khả thể trở thành Cái Hoàn Toàn Khác trong tương lai.
Việc định nghĩa con người dựa trên thuật toán trong các hệ thống AI không vận hành trước hết dựa trên “tự nhiên” hay “ngôn ngữ” của con người, nhưng dựa trên dữ liệu. Vì vậy, mã hóa nhị phân có một mức độ ưu tiên nhất định, đồng thời đưa đến một sự giản lược vào các cực tính 0 và 1, và tập trung vào những gì đã thuộc về quá khứ.
Sau cùng, còn có chiều kích tính thân xác, tức một chiều kích khác của cách các ngôi vị sống động dấn thân với những gì bao quanh họ, với môi trường của họ, và của cách họ cộng hưởng với thế giới.
Diễn ngôn liên ngành, không chỉ trong các tranh luận thần học mà còn trong lĩnh vực đang nổi lên của nhân văn kỹ thuật số, cùng với các quan niệm về nhân tính và khả năng các quan niệm ấy được định hình bởi tôn giáo, cũng như với chủ đề AI, có tầm quan trọng khoa học và xã hội rất lớn. Tuy nhiên, diễn ngôn này cần một sự phản tư và một sự hiểu biết sâu sắc hơn về cả hai chủ đề.
Vì lý do đó, bài viết này đưa ra một số lời mời gọi nghiên cứu xoay quanh các câu hỏi sau.
1. Vượt quá “các mạng nơ-ron” Những mô tả, đặc tính hóa và hình ảnh nào về các quan niệm con người có thể được tìm thấy trong các viễn tượng cá nhân và tập thể nơi các định chế hoặc tổ chức? Chúng được định nghĩa và được biện minh như thế nào, bởi ai và nhằm mục đích gì?
2. Phản tư về các quan niệm con người Những mô hình và tiến trình phản tư nào về các quan niệm con người có thể được phát hiện? Có thể đạt được những mô tả nào về nguồn gốc, giá trị hiệu lực và tính hợp pháp của các mô hình nhân học? Việc phản tư về các quan niệm con người diễn ra như thế nào? Và các quan niệm con người được định dạng về mặt tôn giáo giữ vai trò nào trong đời sống thực tế của con người như những tài liệu sống là con người?
3. Diễn ngôn về các công nghệ mới Những mô tả, đặc tính hóa và hình ảnh nào về các quan niệm con người có thể được tìm thấy trong các thảo luận về AI? Chúng được định nghĩa và được biện minh như thế nào, bởi ai và nhằm mục đích gì? Những phát hiện này ảnh hưởng ra sao đến các quan niệm con người mang tính tôn giáo vốn đã hiện hữu?
Ở mức độ nào, một hình dung về con người như một hữu thể mong manh, linh động, mảnh vụn, bất toàn và phải chết, đồng thời cũng là hữu thể cần được cứu chuộc, có thể trở thành một phông nền phủ định vừa gây chất vấn vừa hữu ích cho các diễn ngôn tiếp theo về AI?
Điều có nghĩa là trở thành một ngôi vị con người, nếu con người không chỉ đơn thuần là một “mạng nơ-ron”, dẫn chúng ta trở lại thách đố nền tảng của một sự tái đọc và một cuộc phục hưng các điều kiện, đòi hỏi, định nghĩa và ý tưởng nhân học về việc là Mensch, tức là người: “Liệu chúng ta còn biết điều ấy có nghĩa là gì không: được sống, yêu thương, cười và khóc, cảm nhận hương thơm của một cái cây, cảm thấy làn da của chính mình, và nếm vị mặn của nước?”83
TÀI LIỆU THAM CHIẾU
AI High Level Expert Group of the European Commission. A Definition of AI: Main Capabilities and Disciplines. Definition Developed for the Purpose of the AI HLEG’s Deliverables. 2019. https://ec.europa.eu/newsroom/dae/document.cfm?doc_id=56341. Accessed 22 March 2024.
Ammicht-Quinn, Regina. “Body Culture.” In William Schweiker, ed., The Blackwell Companion on Religious Ethics, 527–535. Oxford: Blackwell, 2005.
Anders, Günther. Die Antiquiertheit des Menschen. 1, Über die Seele des Menschen im Zeitalter der zweiten industriellen Revolution. 6th ed. München: C. H. Beck, 1983.
Bucher, Rainer. … wenn nichts bleibt, wie es war. Zur prekären Zukunft der katholischen Kirche. 2nd ed. Würzburg: Echter, 2012.
Burkhardt, Christoph. Don’t Be a Robot: Seven Survival Strategies in the Age of Artificial Intelligence. Zürich: Midas, 2018.
Butler, Judith. Gefährdetes Leben. Frankfurt a.M.: Suhrkamp, 2005.
Capurro, Rafael. “Menschenbilder. Einführung in die philosophische Anthropologie.” In Petra Grimm and Rafael Capurro, eds., Medienethik. Menschenbilder in den Medien: ethische Vorbilder? Schriftenreihe Medien-Ethik Bd. 1, 83–110. Wiesbaden: Franz Steiner, 2002.
Congar, Yves. “Die Geschichte der Kirche als ‘locus theologicus’.” Concilium 6, 1970, 496–501.
Danz, Christian. Gottes Geist. Eine Pneumatologie. Tübingen: Mohr Siebeck, 2019.
Deutsche Bischofskonferenz. “Unsere Hoffnung. Ein Bekenntnis zum Glauben in dieser Zeit.” In Ludwig Bertsch, Philipp Boonen, and Rudolf Hammerschmidt, eds., Gemeinsame Synode der Bistümer in der Bundesrepublik Deutschland. Beschlüsse der Vollversammlung, Vol. 1, 84–111. Freiburg i. Br./Basel/Wien: Herder, 1976.
Deutscher Bundestag. Bericht der Enquete-Kommission Künstliche Intelligenz – Gesellschaftliche Verantwortung und wirtschaftliche, soziale und ökologische Potenziale. 2020. https://dserver.bundestag.de/btd/19/237/1923700.pdf. Accessed 22 March 2024.
Dicastery for Promoting Integral Human Development. “Communiqué of the Dicastery for Promoting Integral Human Development: Theme of the Message for World Peace Day 2024.” 2023. https://press.vatican.va/content/salastampa/en/bollettino/pubblico/2023/08/08/230808c.html. Accessed 22 March 2024.
Dorobantu, Marius. Artificial Intelligence and the Image of God: Are We More than Intelligent Machines? Cambridge: Cambridge University Press, 2024.
Dorobantu, Marius. “Theological Anthropology Progressing through Artificial Intelligence.” In Gijsbert van den Brink, Rik Peels, and Bethany N. Sollereder, eds., Progress in Theology: Does the Queen of the Sciences Advance? New York/London: Routledge, forthcoming.
Dürnberger, Martin. “Menschenbilder in der Theologie.” In Michael Zichy, ed., Handbuch Menschenbilder. Wiesbaden: Springer, 2020.
Dykstra, Robert C. Images of Pastoral Care: Classic Readings. St. Louis, MO: Chalice Press, 2005.
Else, Holly. “Abstracts Written by ChatGPT Fool Scientists: Researchers Cannot Always Differentiate between AI-generated and Original Abstracts.” 2023. https://www.nature.com/articles/d41586-023-00056-7. Accessed 22 March 2024.
European Commission. White Paper on Artificial Intelligence: A European Approach to Excellence and Trust. 2020. https://ec.europa.eu/info/sites/default/files/commission-white-paper-artificial-intelligence-feb2020_en.pdf. Accessed 22 March 2024.
European Commission. “Europe Fit for the Digital Age: Commission Proposes New Rules and Actions for Excellence and Trust in Artificial Intelligence.” 2021. https://ec.europa.eu/commission/presscorner/detail/en/IP_21_1682. Accessed 22 March 2024.
European Commission. Proposal for a Regulation Laying Down Harmonised Rules on Artificial Intelligence. 2021. https://digital-strategy.ec.europa.eu/en/library/proposal-regulation-laying-down-harmonised-rules-artificial-intelligence-artificial-intelligence. Accessed 22 March 2024.
Filipović, Alexander. “Ethical and Social Consequences of Artificial Intelligence: Insights from a Christian Social Ethics Perspective.” In Renzo Pegoraro and Vincenzo Paglia, eds., The ‘Good Algorithm’? Artificial Intelligence, Ethics, Law, Health. Proceedings of the XXVI General Assembly of Members, Vatican City, February 26–28, 2020, 47–70. Vatican City: Pontifical Academy for Life, 2021.
Floridi, Luciano. The 4th Revolution: How the Infosphere Is Reshaping Human Reality. New York: Oxford University Press, 2014.
GPT-3. “A Robot Wrote This Entire Article: Are You Scared Yet, Human?” 8 September 2020. https://www.theguardian.com/commentisfree/2020/sep/08/robot-wrote-this-article-gpt-3. Accessed 22 March 2024.
Haraway, Donna. “A Cyborg Manifesto.” Socialist Review 80, 1985, 65–108.
Helmus, Caroline. Transhumanismus – der neue Untergang des Menschen? Das Menschenbild des Transhumanismus und seine Herausforderung für die Theologische Anthropologie. Ratio fidei 72. Regensburg: Friedrich Pustet, 2020.
Hilberath, Bernd Jochen. Pneumatologie. Düsseldorf: Patmos, 1994.
Hoff, Gregor Maria. “Herausforderungen künstlicher Intelligenz und des Posthumanismus. Säkularität als Herausforderung des christlichen Menschenbildes und dessen Wandlungsfähigkeit oder -notwendigkeit im Horizont aktueller Diskurse.” In Johanna Rahner and Thomas Söding, eds., Kirche und Welt. Ein notwendiger Dialog. Stimmen katholischer Theologie, Quaestiones disputatae 300, 309–320. Freiburg/Wien/Basel: Herder, 2019.
Hofstetter, Yvonne, and Friedrich Graf von Westphalen. “‘Der Mensch ein Irrtum der Natur’. Mit Big Data von Sapiens zu Superior.” futur2. Zeitschrift für Strategie und Entwicklung in Gesellschaft und Kirche 2, 2017. http://www.futur2.org/article/der-mensch-ein-irrtum-der-natur-mit-big-data-von-sapiens-zu-superior/. Accessed 22 March 2024.
Jobin, Anna, Marcello Ienca, and Effy Vayena. “The Global Landscape of AI Ethics Guidelines.” Nature Machine Intelligence 1, 2019, 389–399.
Klaiber, Judith. “Mysterium Humanum als Rocket Science für das 21. Jahrhundert. Artificial Intelligence und theologische Anthropologie.” In Wolfgang Beck, Ilona Nord, and Joachim Valentin, eds., Theologie und Digitalität. Ein Kompendium, 234–256. Freiburg i. Br.: Herder, 2021.
Körner, Bernhard. Melchior Cano. De locis theologicis. Ein Beitrag zur Theologischen Erkenntnislehre. Graz: Styria, 1994.
Krüger, Oliver. “Gnosis im Cyberspace? Die Körperutopien des Posthumanismus.” In Kristiane Hasselmann, Sandra Schmidt, and Cornelia Zumbusch, eds., Utopische Körper. Visionen zukünftiger Körper in Geschichte, Kunst und Gesellschaft, 131–145. Paderborn: Wilhelm Fink, 2004.
Krüger, Oliver. “L’homme machine oder die Überwindung und Vervollkommnung des Menschen im Posthumanismus.” In Aleida Assmann and Jan Assmann, eds., Vollkommenheit. Archäologie der literarischen Kommunikation, 107–130. München: Wilhelm Fink, 2010.
Küenzlen, Gottfried. Der Neue Mensch. Eine Untersuchung zur säkularen Religionsgeschichte der Moderne. München: Wilhelm Fink, 1997.
Langenfeld, Aaron, and Magnus Lerch. Theologische Anthropologie. Grundwissen Theologie. Paderborn: utb, 2018.
Lerch, Magnus. “Was heisst: ‘Erlöse uns von dem Bösen’? Exegetische und systematische Überlegungen zur siebten Vater-Unser-Bitte.” Internationale katholische Zeitschrift Communio 49, 2020, 5–22.
Markkula Center for Applied Ethics. The Institute for Technology, Ethics, and Culture. https://www.scu.edu/institute-for-technology-ethics-and-culture/. Accessed 22 March 2024.
McCarthy, John, Marvin L. Minsky, Nathaniel Rochester, and Claude E. Shannon. “A Proposal for the Dartmouth Summer Research Project on Artificial Intelligence.” Reprinted in AI Magazine 27, no. 4, 2006, 12–14.
Miller, Daniel, and Heather A. Horst. “The Digital and the Human: A Prospectus for Digital Anthropology.” In Heather A. Horst and Daniel Miller, eds., Digital Anthropology, 3–38. London/New York: Berg, 2012.
OpenAI. “ChatGPT.” https://openai.com/blog/chatgpt/. Accessed 22 March 2024.
Österreichischer Rat für Robotik und Künstliche Intelligenz. Die Zukunft Österreichs mit Robotik und Künstlicher Intelligenz positiv gestalten. White Paper. 2018.
Österreichisches Museum für angewandte Kunst (MAK). Exhibition Booklet: Artificial Tears – Singularität & Menschsein. Eine Spekulation. 2017. https://www.mak.at/programm/ausstellungen/artificial_tears_. Accessed 3 May 2021.
Pirker, Viera. Fluide und fragil. Identität als Grundoption zeitsensibler Pastoralpsychologie. Ostfildern: Patmos, 2013.
Pope Paul VI. Pastoral Constitution on the Church in the Modern World: Gaudium et Spes. Promulgated 7 December 1965. https://www.vatican.va/archive/hist_councils/ii_vatican_council/documents/vat-ii_const_19651207_gaudium-et-spes_en.html. Accessed 22 March 2024.
Puzio, Anna, Nicole Kunkel, and Hendrik Klinge, eds. Alexa, wie hast du’s mit der Religion? Theologische Zugänge zu Technik und Künstlicher Intelligenz. Theology and AI 1. Darmstadt: Wissenschaftliche Buchgesellschaft, 2023.
Rahner, Karl. Foundations of Christian Faith: An Introduction to the Idea of Christianity. Translated by William V. Dych. London: Darton, Longman & Todd, 1978.
Reed, Randall. “A New Pantheon: Artificial Intelligence and ‘Her’.” Journal of Religion & Film 22, no. 2, 2018.
Rich, Elaine. “Artificial Intelligence and the Humanities.” Computer and the Humanities 19, no. 2, 1985, 117–122.
Sander, Hans-Joachim. “Theologischer Kommentar zur Pastoralkonstitution über die Kirche in der Welt von heute Gaudium et spes.” In Peter Hünermann and Jochen Hilberath, eds., Herders Theologischer Kommentar zum Zweiten Vatikanischen Konzil, Vol. 4, 581–886. Freiburg/Basel/Wien: Herder, 2005.
Seckler, Max. “Loci theologici.” In Walter Kasper, ed., Lexikon für Theologie und Kirche, Vol. 6, 1014–1016. Freiburg i. Br./Wien: Herder, 1997.
Serrano, Gemma, and Alessandro De Cesaris. “Towards a Theological Anthropology of the Digital Age: Some Introductory Remarks.” Journal for Religion and Transformation in Contemporary Society 7, no. 1, 2021, 335–354.
Singler, Beth. “‘Blessed by the Algorithm’: Theistic Conceptions of Artificial Intelligence in Online Discourse.” AI & Society, 2020.
Thompson, Bill, Seán G. Roberts, and Gary Lupyan. “Cultural Influences on Word Meanings Revealed through Large-scale Semantic Alignment.” Nature Human Behaviour 4, 2020, 1029–1038.
Valentin, Joachim. “Versprechen der Digitalisierung versus Verheißungen Gottes. Markierungen und Übergänge.” In Wolfgang Beck, Ilona Nord, and Joachim Valentin, eds., Theologie und Digitalität. Ein Kompendium, 347–367. Freiburg i. Br.: Herder, 2021.
van Oorschot, Frederike, and Selina Fucker. Framing KI. Narrative, Metaphern und Frames Künstlicher Intelligenz in interdisziplinärer Perspektive. FEST Forschung 2. Heidelberg: Universitätsbibliothek Heidelberg, 2022.
von Borries, Friedrich. Weltentwerfen. Eine politische Designtheorie. Berlin: Suhrkamp, 2016.
von Luxburg, Ulrike. “Wie funktioniert maschinelles Lernen?” 2020. http://www.tml.cs.uni-tuebingen.de/team/luxburg/publications/luxburg_wie_funktioniert_ml.pdf. Accessed 7 December 2020.
von Spiekermann-Hoff, Sarah. “Das Digitale Menschenbild – Eine kritische Diskussion.” In Michael Zichy, ed., Handbuch Menschenbilder. Wiesbaden: Springer, 2020.
Wendel, Saskia. “Das gefährdete Leben und sein Hoffnungsversprechen auf Erlösung, Judith Butler religionsphilosophisch gelesen.” In Bernhard Grümme and Gunda Werner, eds., Judith Butler und die Theologie. Herausforderung und Rezeption, 219–236. Bielefeld: transcript, 2020.
Zsifkovits, Valentin. “Das Menschenbild der christlichen Theologie.” Jahrbuch für Christliche Sozialwissenschaften 22, 1981, 13–22.
↩ Cho đến nay, bài viết này đã có một lịch sử hình thành kéo dài khoảng ba đến bốn năm, và nội dung của nó một phần dựa trên bài viết đã được công bố trước đó trong một tuyển tập: Klaiber, Mysterium Humanum als Rocket Science für das 21. Jahrhundert. Nhìn chung, các phát triển kỹ thuật trong lĩnh vực này diễn ra rất nhanh; hầu như không ngày nào trôi qua mà không có một chương trình mới, một sản phẩm mới, một mô hình kinh doanh mới, những mô tả công việc mới, chẳng hạn như prompting, hoặc phần mềm mới, chẳng hạn như phiên dịch đồng thời trong video trực tiếp, được phát hành dựa trên công nghệ AI.
↩ Có thể tìm thêm thông tin về công cụ truyền thông, chứ không phải công cụ tri thức, này và việc thử nghiệm nó tại: https://openai.com/blog/chatgpt/. Cho đến nay, nhiều mối quan ngại và sợ hãi khác nhau đã được nêu lên. Chẳng hạn, người ta lo rằng các hình thức kiểm tra, đánh giá cổ điển trong môi trường học thuật có thể trở nên lỗi thời do sự xuất hiện của công cụ này.
↩ Cần ghi nhận giới hạn sau đây, như sẽ được trình bày thêm trong mục 1.2 của bài viết này: các mô hình ngôn ngữ lớn, xét như một dạng AI, tạo ra kết quả dựa trên chất liệu mà chúng được huấn luyện. Trong trường hợp này, chất liệu huấn luyện là những tập dữ liệu văn bản khổng lồ, vốn đôi khi chứa các thiên kiến, sai lỗi, bất cập hoặc thậm chí nhiều dạng “chủ nghĩa” khác nhau.
↩ Câu trả lời của ChatGPT; ảnh chụp màn hình hiện có.
↩ Hofstetter/Graf von Westphalen, “Der Mensch ein Irrtum der Natur.”
↩ “Trí tuệ nhân tạo (AI) quy chiếu đến các hệ thống biểu lộ hành vi thông minh bằng cách phân tích môi trường của chúng và thực hiện các hành động, với một mức độ tự trị nào đó, nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể.” Xem AI High Level Expert Group of the European Commission, A Definition of AI: Main Capabilities and Disciplines, tr. 1.
↩ Thoạt nhìn, cách viết hu_man có vẻ khá xa lạ. Tuy nhiên, cách viết với một dấu ngắt như thế đã rất quen thuộc trong các tranh luận liên quan đến giới về việc kiến tạo căn tính. Cách viết được vay mượn và biến đổi này còn nhằm làm cho điều vốn bị làm cho vô hình trong mã hóa lưỡng cực trở nên khả kiến, điều đã trở nên linh động hoặc vượt quá cái nhân loại, quá ư nhân loại. Việc làm tan chảy các phạm trù trật tự nền tảng giữa hữu thể người và máy móc, cũng như đường phân chia giữa các giới hạn thể lý và phi thể lý, đã được phác họa, chẳng hạn nơi Haraway, Cyborg Manifesto. Trong viễn tượng ấy, cách viết hu_man và hu_mankind đã được chọn cho dự án được đề xuất này.
↩ Burkhardt, Don’t be a Robot.
↩ “[…] các máy tính đang ‘đạt được một vị thế tạo sinh lý thuyết trong một số câu hỏi của các khoa học thực nghiệm […]’. Một loại hình tri thức công nghệ mới đang xuất hiện.” Filipović, “Ethical and Social Consequences of Artificial Intelligence,” tr. 58.
↩ Human living documents là một ẩn dụ loại suy và là một khái niệm thực nghiệm nhằm làm cho kinh nghiệm con người trở nên hiển nhiên. Khái niệm này được A. T. Boisen đề xuất trong lĩnh vực Chăm sóc Mục vụ Lâm sàng vào thập niên 1930. Xem Dykstra, Images of Pastoral Care.
↩ Công đồng Vatican II (1962–1965) đã làm việc trên sứ mạng của Giáo hội Công giáo Rôma nhằm thảo luận và thực hiện những canh tân mục vụ và đại kết. Điều này đòi hỏi, giữa những điều khác, phải cập nhật một số mệnh đề tín lý trong cuộc đối diện với các đòi hỏi và thực tại của thời đại hiện nay. Các hệ quả và hàm ý, cũng như các vấn đề thông diễn học, rất đa dạng: một số tiến trình tư tưởng và chỉ dẫn vẫn chưa được hoàn tất; một số khác đã trở nên lỗi thời. Về căn bản, trong những năm tháng thảo luận ấy, đã có một nỗ lực nhằm diễn giải lại mối tương quan giữa thế giới và Giáo hội Công giáo Rôma dưới ánh sáng Tin Mừng.
↩ Đức Giáo hoàng Phaolô VI, Gaudium et Spes, số 1.
↩ Singler, “Blessed by the algorithm”, tr. 946
↩ Deutscher Bundestag, Bericht der Enquete-Kommission Künstliche Intelligenz – Gesellschaftliche Verantwortung und wirtschaftliche, soziale und ökologische Potenziale, tr. 84. Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Xem Klaiber, Mysterium Humanum als Rocket Science für das 21. Jahrhundert.
↩ Khi quy chiếu đến một “cuộc cách mạng Copernic”, tác giả muốn nói đến việc xác định lại mối tương quan của thực thể Giáo hội Công giáo Rôma với thế giới và trong thế giới. Đồng thời, điều nổi bật là sự nhấn mạnh và khai triển rõ ràng hơn nhiều về tầm quan trọng của từng ngôi vị cá nhân. Đây là một khúc quanh đáng chú ý trong tư duy.
↩ Với khúc quanh này, nền tảng của việc diễn giải thần học không còn chỉ là hữu thể luận, nhưng còn là các lý thuyết liên quan đến sự phát triển của con người trong những điều kiện và đan xen lịch sử cũng như hiện sinh nhất định, trong tính ngẫu nhiên của hiện hữu: “Phàm nhân là gì mà Chúa nhớ đến?” Tv 8,4.
↩ xem. Pirker, Fluide und fragil, tr. 233
↩ Hoff, Herausforderungen künstlicher Intelligenz und des Posthumanismus, tr. 315 Bản dịch củaJudith Klaiber.
↩ Bucher, … wenn nichts bleibt, wie es war, tr. 143 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ xem. Sander, Theologischer Kommentar zur Pastoralkonstitution über die Kirche in der Welt von heute Gaudium et spes.
↩ Congar, Die Geschichte der Kirche als “locus theologicus“, tr. 496 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Körner, Melchior Cano. De locis theologicis.
↩ Seckler, Loci theologici, tr. 1014.
↩ Körner, Melchior Cano. De locis theologicis, tr. 417.
↩ Theo trình thuật chính của Công đồng Vatican II (1962–1965), trong đó các cuộc canh tân và đổi mới về giáo hội học, mục vụ, phụng vụ và đại kết đã được thấm nhập và triển khai, aggiornamento có nghĩa gần như là “thích nghi với ngày hôm nay”, hay tương ứng là “cập nhật hằng ngày”.
↩ Sander, Theologischer Kommentar zur Pastoralkonstitution über die Kirche in der Welt von heute Gaudium et spes, tr. 716 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Küenzlen, Der Neue Mensch, tr. 9 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Rahner, Foundations of Christian Faith, tr. 33.
↩ xem. Hoff, Herausforderungen künstlicher Intelligenz und des Posthumanismus, tr. 319.
↩ Valentin, Versprechen der Digitalisierung versus Verheißungen Gottes, tr. 363 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Hoff, Herausforderungen künstlicher Intelligenz und des Posthumanismus, tr. 309 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Chỉ xin nêu một vài ví dụ: hữu thể người như công trình tạo dựng mang tính ngôi vị và tương giao với Thiên Chúa; như người thiết kế và định hình có trách nhiệm đối với công trình sáng tạo; như một hữu thể tội lỗi; như một hữu thể đã được cứu độ; như một hữu thể được kiến tạo bởi xã hội; như một hữu thể lịch sử; như một hữu thể tin, hy vọng và sống. Xem Zsifkovits, “Das Menschenbild der christlichen Theologie.”
↩ xem. Langenfeld/Lerch, Theologische Anthropologie, tr. 11.
↩ Langenfeld/Lerch, Theologische Anthropologie, tr. 9 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Capurro, Menschenbilder. Einführung in die philosophische Anthropologie, tr. 85 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Langenfeld/Lerch, Theologische Anthropologie, tr. 9 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Deutsche Bischofskonferenz, Unsere Hoffnung. Ein Bekenntnis zum Glauben in dieser Zeit, tr. 96 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ xem. Floridi, The 4th Revolution.
↩ Serrano/De Cesaris, Towards a Theological Anthropology of the Digital Age, tr. 337
↩ Serrano/De Cesaris, Towards a Theological Anthropology of the Digital Age, tr. 351 và tiếp theo.
↩ Lerch, Was heisst: „Erlöse uns von dem Bösen“?, tr. 22 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Chắc chắn đã có những bài viết và chuyên luận bàn về hậu nhân văn và xuyên nhân văn từ những viễn tượng thần học chuyên biệt, chẳng hạn Helmus, Transhumanismus – der neue (Unter-)Gang des Menschen?
↩ Krüger, L’homme machine, tr. 109 Bản dịch của Judith Klaiber; quy chiếu đến Anders, Die Antiquiertheit des Menschen
↩ xem. Krüger, L’homme machine, tr. 111 và tiếp theo.
↩ Krüger, L’homme machine, tr. 5 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Việc tập trung và giản lược hữu thể người vào các chức năng của não bộ, tức tâm trí, gợi nhớ đến kho tàng tư tưởng về những cám dỗ ngộ đạo. Krüger đã đề cập đến mối liên hệ giữa quan niệm ấy và các yếu tố ngộ đạo ngay từ năm 2004 trong Krüger, “Gnosis im Cyperspace?” Xem Krüger, “L’homme machine,” tr. 126.
↩ Chẳng hạn Hilberath, Pneumatologie; Danz, Gottes Geist.
↩ xem: Krüger, L’homme machine, tr. 126.
↩ Serrano/De Cesaris, Towards a Theological Anthropology of the Digital Age, tr. 340.
↩ Wendel, Das gefährdete Leben und sein Hoffnungsversprechen auf Erlösung, Judith Butler religionsphilosophisch gelesen, trp. 224 Bản dịch của Judith Klaiber; quy chiếu đến Butler, Gefährdetes Leben, tr. 3.
↩ Ammicht-Quinn, Body Culture, tr. 528.
↩ Ammicht-Quinn, Body Culture, tr. 527.
↩ Ammicht-Quinn, Body Culture, tr. 528; quy chiếu đến Anders, Die Antiquiertheit des Menschen.
↩ Ammicht-Quinn, Body Culture, tr. 531.
↩ Ammicht-Quinn, Body Culture, tr. 535.
↩ Miller/Horst, The Digital and the Human, tr. 3.
↩ Miller/Horst, The Digital and the Human, tr. 4.
↩ xem. Miller/Horst, The Digital and the Human, các tiêu đề chương.
↩ McCarthy/Minsky/Rochester/Shannon, A Proposal for the Dartmouth Summer Research Project on Artificial Intelligence, tr. 12.
↩ Thompson/Roberts/Lupyan, Cultural Influences on Word Meanings Revealed Through Large-scale Semantic Alignment.
↩ GPT-3, A Robot Wrote this Entire Article. Are you Scared yet, Human?
↩ Rich, Artificial Intelligence and the Humanities, tr. 117.
↩ xem. von Luxburg, Wie funktioniert maschinelles Lernen?
↩ Österreichischer Rat für Robotik und Künstliche Intelligenz, Die Zukunft Österreichs mit Robotik und Künstlicher Intelligenz positiv gestalten, tr. 25 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Jobin/Ienca/Vayena, The Global Landscape of AI Ethics Guidelines.
↩ Thật đáng mừng khi thấy rằng vấn đề phẩm giá con người hiện nay đang nhận được nhiều chú ý hơn và được xem xét rộng rãi hơn trong các chuyên luận về AI. Vì thế, nhận định này cần được hiểu là có giá trị đối với giai đoạn cho đến giữa năm 2023.
↩ Singler, “Blessed by the algorithm, tr. 946; reference to Reed, A New Pantheon.
↩ xem. Klaiber, Mysterium Humanum als Rocket Science für das 21. Jahrhundert.
↩ European Commission, White Paper on Artificial Intelligence: A European Approach to Excellence and Trust.
↩ European Commission: White Paper on Artificial Intelligence: a European Approach to Excellence and Trust, tr. 1.
↩ European Commission: White Paper on Artificial Intelligence: a European Approach to Excellence and Trust, tr. 2.
↩ Điều 2: “Liên minh được đặt nền trên các giá trị tôn trọng phẩm giá con người, tự do, dân chủ, bình đẳng, pháp quyền và tôn trọng nhân quyền, bao gồm các quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số. Những giá trị này là chung cho các quốc gia thành viên trong một xã hội nơi chủ nghĩa đa nguyên, không phân biệt đối xử, khoan dung, công lý, liên đới và bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới chiếm ưu thế.”
↩ European Commission: White Paper on Artificial Intelligence: a European Approach to Excellence and Trust, tr. 2.
↩ European Commission, Proposal for a Regulation of the European Parliament and of the Council.
↩ European Commission, Proposal for a Regulation of the European Parliament and of the Council, tr. 1.
↩ For the following: European Commission, Europe Fit for the Digital Age.
↩ European Commission, Proposal for a Regulation of the European Parliament and of the Council, tr. 21.
↩ European Commission, Proposal for a Regulation of the European Parliament and of the Council, tr. 4.
↩ Haraway, A Cyborg Manifesto, tr. 71–99.
↩ Burkhardt, Don’t be a robot.
↩ von Borries, Weltentwerfen. Eine politische Designtheorie, tr. 13 Bản dịch của Judith Klaiber.
↩ Österreichisches Museum für angewandte Kunst (MAK), Exhibition Booklet: Artificial Tears – Singularität & Menschsein. Eine Spekulation. [Bản dịch của Judith Klaiber].
Chưa có Đánh giá/Bình luận nào được đăng.
Hãy trở thành người đầu tiên đóng góp nội dung cho Bài viết này.